Trí Thức Theo Cộng

BX Canh
Có người đã cho rằng điều đáng ghi nhớ nhất trong thiên niên kỷ vừa qua của nhân loại là sự hình thành và sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản . Theo thiển ý  , chẳng những đó là điều đáng ghi nhớ nhất , mà còn là sự kiện lịch sử quan trọng nhất . Nhân loại chưa bao giờ bị thống khổ và kinh hoàng như thế , với hàng trăm triệu người bị sát hại dã man , bị đầy đoạ xuống hàng súc vật , và thế giới nhiều phen đã bị Cộng Sản đẩy đến bên bờ một cuộc chiến tranh nguyên tử . Nếu trí ngu con người đã tạo ra cái chủ nghĩa ác ôn này , thì cũng chính trí khôn con người đã nhận ra con quái vật đó , và tiêu diệt được nó . Một số người Việt Nam , thế hệ cha anh của chúng ta hôm nay , đã đi rước lấy cái chủ nghĩa giết người này về , gây tang thương máu lửa trong gần một trăm năm qua , với những khổ đau chất ngất cho chúng ta , và con cháu tới ngày nay . Trong khi tại cái nôi của chủ nghĩa này , người ta đã chặt đầu con rắn độc Cộng Sản từ lâu , thì chúng ta vẫn còn đang bị nó siết cổ !
Tại sao ?
Chúng ta đã quằn quại , khổ công suy nghĩ , phân tích , xem tại sao tới nay Cộng Sản vẫn còn ngự trị trên nước ta , và đã có nhiều câu trả lời :
Tại thời cơ chưa tới ; tại dân trí ta còn kém , tại nền văn hoá Khổng giáo đã khiến các sĩ phu chỉ biết cúi mặt tôn thờ nhà cầm quyền , dù là nhà cầm quyền vô đạo lý và bất nhân ; tại chúng ta thiếu đoàn kết , tại Cộng Sản Việt được Chệt đỏ chống lưng cho nó ngồi , tại chính sách Hoa Kỳ muốn duy trì Việt Cộng để be bờ chống Tàu cộng tràn xuống Đông Nam Á ... Đồng ý với câu trả lời nào , là tuỳ sự suy nghĩ của mỗi người , và không phải là mục đích của bài viết này . Điều tôi muốn trình bày là tại đất nước ta , đã có một tầng lớp trí thức đem tài năng và uy tín của họ , để phục vụ cho một bọn cướp tàn bạo nhất trong lịch sử , giúp cho giặc quàng cái xiềng vô cổ dân ta , và chính bản thân họ đã lãnh hậu quả của sự sai lầm đó ra sao .
Tại sao một bọn vô học , hiếu sát và lưu manh , có đầy đủ tính chất của một bọn cướp , lại đã có thể nắm đầu những kẻ được đất nước nuôi dưỡng để lãnh đạo , những kẻ « đầu đầy chữ , bụng đầy sách » có sự hiểu biết hơn người , và là tinh hoa thời đại ?
Tại sao trong lúc người dân ít học đã biết rõ sự tàn độc và nhưng mưu đồ đen tối của lũ bịp Cộng Sản , thì có những nhà trí thức lại mê muội đồng hành với bọn đạo tặc và ca ngợi cái ác ? Thật là những câu hỏi làm đau đầu và khó trả lời !
Chủ nghĩa Cộng Sản được một số cán bộ ít học đưa vào Việt Nam . Có nhiều lý do để cho rằng bọn này chẳng hiểu gì nhiều về cái chủ nghĩa mà chúng nó muốn gieo rắc . Xin đừng ai nguỵ biện để chứng minh rằng những ông Nguyễn Sinh Cung , Đặng Xuân Khu , Trần Phú , Đỗ Mười , Lê Duẩn ... và hầu hết các cấp lãnh đạo của Việt Cộng , đã đọc và hiểu thấu đáo Tư Bản Luận ! Nếu có ông trí thức nào bỏ công đọc các kinh điển của chủ nghĩa Mac , rồi « phụ đạo » cho các lãnh tụ , thì với trình độ văn hoá tiểu học , các lãnh tụ đó có sức để hiểu nổi không ? Cụ Nguyễn Mạnh Tường , một người nằm « trong chăn » Cộng Sản , viết cuốn Hồi Ký « Un Excommunié » , đã mỉa mai bọn lãnh tụ Cộng Sản về sự mù tịt , không biết chút gì về cái chủ nghĩa mà chúng cuồng tín . Thật ra , cho tới lúc này , bọn đầu sỏ của Việt Cộng trong cái gọi là Bộ Chính Trị , tự thâm tâm , đều biết chúng chỉ là một bọn bịp .
Chúng như một lũ mù đang dọ dẫm tìm đường đi để tự cứu ! Cộng đảng đã từng sửa sai bao nhiêu lần , sửa lại theo cái đã cho là sai , và cuối cùng đưa ra cái mô hình xã hội mà chính chúng cũng không dám nói rõ là chúng đang rụt rè trở lại con đường tư bản : Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ! Thế nhưng trong khi đó , một số trí thức , ngay từ những ngày đầu , khi chủ nghĩa Cộng Sản mới được du nhập xứ Việt , đã vội tung hô bọn cộng , giúp chúng gieo rắc môt cái chủ nghĩa vô cùng tàn độc ! Vẻ uyên bác , cùng với xảo thuật và miệng lưỡi của đám trí thức theo cộng này , đã góp phần quan trọng cho sự thành công của lũ chơi bạc bịp ! « Xã hội không còn giai cấp ; làm theo năng lực , hưởng theo nhu cầu ; phá tan biên cương loài người sống thân yêu ... » , những món hàng không tưởng đầy sự bịp bợm ấy , đã một thời được các ông trí thức theo cộng say sưa truyền đạt , nay trở thành chuyện khôi hài vô duyên , chẳng còn anh Cộng lớn , Cộng bé nào dám nhai lại . Không biết chúng ta có nên gọi những ông có học , có bằng cấp cao , mà đầu óc đã ngừng suy luận , hoặc chỉ suy nghĩ về danh , lợi , này là trí thức ? Trí thức , như chúng ta thường nghĩ , phải là kẻ hiểu sâu , biết rộng , phân biệt phải trái , là tinh hoa chỉ lối cho người khác noi theo . Ngoài lãnh vực chuyên môn , người trí thức phải biết quan tâm đến cái thể chế và tổ chức xã hội mình đang sống , góp sức làm cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn . Người trí thức chỉ đường cho quần chúng noi theo , phải nhận chân được sự lương thiện và sự bịp bợm . Có người sẽ coi lại : biển học thì mênh mông , các tổ chức xã hội , thể chế chính trị thì phức tạp , ai mà dám cho mình là người biết hết sự đời . Trong khi đó thì bọn Cộng Sản là bậc thầy của sự bịp bơm và là bọn điếm đàng quốc tế , được huấn luyện và dạy dỗ những phương cách vô cùng xảo quyệt để lừa bịp . Vả lại , chúng tôi cũng không thích nghiên cứu chính trị , nên không biết gì về chủ thuyết Cộng Sản . Ấy cũng là sự thường vậy ! Thưa vâng , không ai biết hết sự đời ! Ít người muốn tìm hiểu về chính trị . Nhưng cái thể chế chính trị do một bọn cướp áp đặt lên đầu mình , thì mình cần , và có bổn phận phải biết nó ra sao chứ ! Huống chi chủ thuyết Cộng Sản và những hậu quả khốc liệt của nó trong gần một thế kỷ qua , trên khắp thế giới , thì không ai có thể chối bỏ là mình không biết tới nó . Vả lại , nếu đã nhận mình không biết rõ về Cộng Sản , thì lý do gì khiến mình đi theo nó , ca tụng nó ?
Một điều quan trọng thiết thân đến đến chính ta , đến con cháu ta , đến xã hội mà ông cha đã nghàn năm vun đắp như thế , mà những kẻ được đời tôn xưng là trí thức lại nhắm mắt tin theo . Không những chỉ hùa theo cái ác , các ông còn dâng hiến tài năng và trí óc cho bọn dã nhân , để chúng thêm nanh thêm vuốt , trong cái xảo thuật bịp bợm và cướp đoạt chính quyền . Nếu trí các ông ù lì , con tim hoá đá , không còn suy nghĩ , và vô cảm trước bao tang thương dâu biển do Cộng Sản gây ra , thì các ông trí thức , cũng còn có đôi mắt , đôi tai chứ ? Có cần chi phải vận dụng tới trí thức uyên bác của các ông để nghiên cứu xem Cộng Sản là gì ! Các ông phải thấy lũ dân đen mà các ông cho là ngu dại , do cảm tính , đã biết ngay rằng chủ nghĩa Cộng Sản là con rắn độc , là tên bạo chúa tàn ác chưa từng có trong lịch sử nhân loại .
Đã có bạo chúa nào trong cuộc đời ngự trị của hắn , tiêu diệt được cả trăm triệu người vô tội ? Bằng kinh nghiệm và cảm nhận , những kẻ mà các ông cho là kém cỏi và vô học , những thằng dân đen , đã bỏ chạy Cộng Sản còn nhanh hơn tránh dịch hạch ! Biết bao lần người dân đã « bỏ phiếu bằng chân » khi Cộng Sản tới . Chả lẽ các ông không còn cả một chút tò mò trẻ thơ để hỏi : tại sao người ta phải bỏ chạy như thế ? Nếu mắt các ông không mù , tai các ông chưa điếc , sao các ông không nhìn thấy bao cảnh kinh hoàng , không nghe những lời than van kêu khóc xé trời , rạch đất của người dân trong nanh vuốt giặc ! Hay các ông không thích nhìn gần , mà chỉ muốn viễn mơ về các khung trời xa lạ , để mở mang trí óc ? Nếu thế , các ông phải thấy hễ nơi nào có cái bóng dáng « xã hội chủ nghĩa » , là nhân dân nơi ấy tàn mạt , xã hội nơi ấy điêu tàn ! Đây là một sự thực hiển nhiên , phơi bày trước mắt loài người lâu gần một thế kỷ ; nhưng bọn trí thức theo cộng dường như đã mù , và câm , nên không thấy , và không nói lên được một điều gì !
Danh từ trí thức tôi viết đây , không phải chỉ gồm có những người học cao , văn bằng lớn , mà còn bao gồm cả những ông nhà văn , nhà báo , những người có tên tuổi và địa vị trong xã hội , đã từng là ngọn đuốc hướng dẫn dư luận một thời .
Hồi còn là học trò nhỏ , và ngay khi đã theo học đại học , tôi luôn kính sợ và cảm phục các ông có bằng lớn , các ông viết văn , viết báo , nghĩ rằng mình chỉ nên dựa cột mà nghe , khi các sư , sĩ bàn luận chuyện quốc gia đại sự . Nhưng trong trí óc non nớt của tôi lúc đó , đã thấy có những đám khói mây mờ mịt của sự ngờ , khi thấy ông giáo sư này nói « gà » , nhưng ông tiến sĩ nọ lại kêu « vịt » . Các ông trí thức tranh cải nhau rất kịch liệt về nhiều vấn đề họ nêu ra . Nhưng riêng về chuyện tranh cãi nhau giữa người theo và người chống cộng , thì bọn theo cộng đâu cần đến chân lý . Các ông theo cộng thường né tránh lời tố cáo sự không tưởng và tàn độc của Cộng Sản , bằng cách tố ngược lại những khuyết điểm và sai lầm của phe quốc gia ! Kiểu tranh luận cù nhầy này , rút lại chỉ là sự tố cáo các sai lầm vớ vẩn giữa người quốc gia và những anh tập sự làm cán cộng , làm nhạt nhoà đi cái cốt lõi , là sự không tưởng , sự tàn bạo kinh khiếp và nguy hiểm của chủ thuyết Cộng Sản .
Bọn trí thức theo cộng , khi bị đuối lý trước những lý luận tố cáo sự bất lương của họ , và trước những sự thực hiển nhiên sờ mó được , về sự sai lầm và tàn độc của cái chủ nghĩa mà họ tôn thờ , vẫn nhơn nhơn , lì lợm , lớn tiếng xưng tụng Cộng Sản . Họ nghĩ rằng lý của kẻ mạnh bao giờ cũng sẽ là chân lý , và Cộng Sản là kẻ mạnh , là thế lực đang lên . Không may cho họ , công sản không phải là kẻ mạnh , và lại là thế lực đang đi xuống ! Khi cái chủ nghĩa này lăn đùng , đột tử , ngay tại nơi nó phát sinh , những anh theo cộng , nhất là những anh đi hai hàng , lừng chừng đứng giữa , bỗng cảm thấy tẽn tò , vỡ mặt , trước cái xác chết xú uế của chủ nghĩa Cộng Sản và một núi rác phó sản của nó quá đỗi dơ bẩn , mà từ bao lâu các anh tôn thờ hôn hít . Nhiều anh quay ra cải chầy cải cối : « Chủ nghĩa Cộng Sản theo lý thuyết , vẫn là chủ nghĩa rất tốt , có sức hấp dẫn . Chỉ khi thực hành mới biết nó không như lý thuyết , và những sự sai lầm của nó , có thể do những người thi hành và áp dụng cái chủ nghĩa ấy gây ra ! » . Theo cái trí ngu đần của tôi thì trên đời này không hề có cái lý thuyết nào đúng , mà khi đem áp dụng , thì nó thành ra sai ! Lại như nói rằng những sai lầm là do người thi hành gây ra , tức là công nhận những tay tổ sư nhà Cộng như Lê Nin , Stalin , Mao , Hồ ... đều là kẻ đã áp dụng sai chủ nghĩa Cộng Sản . Nhưng nếu những tổ sư nhà cộng mà còn không biết áp dụng sao cho đúng chủ nghĩa , thì ai sẽ làm được chuyện đó ? Hỏi như thế chỉ để vạch trần cái lý luận gian manh của mấy anh theo cộng tới giờ thứ 25 .

Nhưng xin cho tôi trở lại với chủ đề bài viết : điểm qua một số trí thức theo cộng và hậu quả mà họ nhận lãnh .
1 - Trí Thức Nguyễn Hiến Lê 
Học giả Nguyễn Hiến Lê , một người mà tôi rất kính trọng , trong Hồi Ký của ông , cho biết ông đã đọc trước sau khoảng hai chục cuốn viết về Cộng Sản Nga , Trung Hoa , Đông Âu . ( Thực ra , người Việt chúng ta đâu có cần phải đọc sách nhiều như thế , để biết Cộng Sản là cái gì ! Và tìm hiểu Cộng Sản qua sách vở , có khi đưa tới sai lầm gây ra đại hoạ . Nhưng ông Lê là ... học giả mà ! ) . Ông Lê cũng được nhiều bạn di cư vô Sài Gòn kể cho ông nghe chính sách điền địa ở Bắc tàn nhẫn tới mức bỏ tù , giết cả những người kháng chiến , có con ở trong kháng chiến , chỉ vì họ có gần hai hecta đất , và bị liệt vào hàng địa chủ bóc lột . Chính những bạn của ông Lê cũng đã giúp kháng chiến , đều có lòng ái quốc , đều là những người tốt , mà không thể sống ở ngoài đó được , phải bỏ nhà cửa , họ hàng , mồ mả tổ tiên , vào Nam với hai bàn tay trắng , sống chen chúc trong những khu lao động , can đảm lập lại cuộc đời . Và ông Lê , sau khi đã nghiên cứu , biết rõ Cộng Sản như thế nào , ông biện minh cho thái độ thân cộng của ông như sau : « Tôi tuy ghét , tởm Stalin , Mao Trạch Đông ... nhưng vẫn tin rằng chế độ Cộng Sản công bằng hơn chế độ tư bản ... Cộng Sản Bắc Việt không thể nào tàn nhẫn như Nga và Trung Hoa được ! » .
Và ông Lê kết luận bằng cách quơ cả đám trí thức vào phe của ông : « Đó là tâm lý chung của đa số trí thức Sài Gòn , chứ chẳng của riêng tôi « . [ Hồi Ký – Tập 3 , trang 20 , nhà xuất bản Văn Nghệ ] .
 Ông học « giả » khả kính , đọc thiên kinh vạn quyển , được tận mắt , tận tai nghe các bạn thân ở Bắc thuyết trình cho nghe sự tàn bạo của bắc cộng , mà ông vẫn « tin rằng » và còn võ đoán rằng « đó là tâm lý chung của đa số trí thức Sài Gòn » , thì những ông trí thức , học « thiệt » sẽ « tin rằng » và có « tâm lý » ra sao về Cộng Sản ? Sự suy diễn của nhà học giả - và của đa số trí thức Sài Gòn , theo lời ông Lê – cũng rất kỳ lạ , đến mức khó hiểu .
Ghét Mao Trạch Đông , ghê tởm Stalin , nhưng lại tin rằng Cộng Sản Bắc Kỳ không tàn nhẫn như Nga , Tàu ! Cộng Sản Việt há không phải là một bản sao , một thứ học trò hăm hở theo lời thầy , và tên đày tớ tuyệt đối vâng theo lời chủ ? Nếu đã nhận là Nga Tàu tàn bạo bất nhân , thì thằng tay sai là Việt Cộng , được các sư tổ Cộng Sản cầm tay chỉ việc , làm sao mà khác được ? Có khi bọn Việt Cộng còn muốn « vượt chỉ tiêu » của cha , anh nó về mức độ tàn nhẫn và dã man . Kìa , hãy xem anh Pol Pot xứ Chùa Tháp , học trò yêu của Mao đã vượt Mao ra sao về mức độ tàn bạo ! Tại sao nhà học giả không dựa vào những điều mắt thấy , tai nghe , những điều sách vở cung cấp cho ông , mà ông lại « tin rằng » một cách vô căn cứ như thế ? Chỉ sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam , và thi hành các chính sách tàn bạo , ông Lê mới vỡ mộng . Ông biện luận về sự sai lầm của ông như sau : « Muốn thấy một chế độ ra sao , thì phải sống dưới chế độ đó dăm năm . Muốn nghe ai phê bình , khen chê gì thì nghe , muốn đọc sách gì thì đọc , dù là người thông minh , chịu suy nghĩ , cũng chỉ biết lờ mờ một chế độ thôi « . [ Hồi KÝ – Tập III trang25-26 ]
Phải sống dăm năm dưới chế độ Cộng Sản , rồi mới biết nó ra sao ! Nếu cứ phải sống dưới chế độ Cộng Sản dăm năm , để biết nó thế nào , rồi mới quyết định chống nó hay theo nó , thì đây thật là một cuộc thí nghiệm điên rồ và chết người . Khi bị Cộng Sản xâm chiếm , không nên chống cự , vì mình chỉ biết lờ mờ về Cộng Sản . Hãy để cho nó cai trị dăm năm , xem sao đã . Điều chắc chắn là khi biết nó ác ôn , thì rất khó vùng vẫy khỏi tay nó , và nếu có thể , thì cái gíá phải trả để thoát cùm gông sẽ đắt như thế nào ! Tôi đọc những lời ông Lê viết trong cuốn Hồi Ký III , nhiều lúc bực mình không chịu nổi , về sự biện minh rất kỳ cục của ông . Xin chịu ông Lê có tài biện luận , để xoá sự sai lầm về thái độ thân cộng của ông . Nhưng trong khi ông học giả chỉ « biết lờ mờ » về Cộng Sản , ông lại ca tụng nó , và thằng dân đen không có đến nửa chữ để nghiên cứu nghiên cò về Cộng Sản để lận lưng , lại quá biết Cộng Sản như thế nào , và chạy trối chết để mong thoát tay nó ! Còn gì khôi hài hơn không ? Những ông trí thức theo cộng trong nước ngày xưa , và ở hải ngoại bây giờ , đều có chung một « đức tính » : các ông luôn mang một bộ mặt cao ngạo , nói , viết , những câu ngang dạ , ra điều ta đây là kẻ nhìn xa trông rộng , dè bỉu những người chống cộng là thiển cận , là cực đoan , là chụp mũ bừa bãi ! Khi chúng ta đang đổ xương máu để ngăn chặn một kẻ thù hung hiểm , thì các ông viết báo , phát ngôn những lời xỏ xiên , châm chọc , tìm đủ mọi khe hở để lách mũi dao nham hiểm vào lưng chúng ta , và tán dương Cộng Sản ; nhưng các ông không dại gì chạy ra bưng với giặc trong thời chiến , và ngày nay cũng không rời bỏ tiện nghi vật chất và tự do ở nước ngoài để « về xây dựng đất nước » như miệng các ông hô hào và tán tụng Cộng Sản . Mưu chước của các ông trí thức này là làm thế nào để vẫn được sống yên thân trong sự bảo vệ của chính quyền quốc gia , hoặc an toàn ở ngoại quốc , mà vẫn lập công được với giặc , vẫn được một bọn lủng lẳng đứng giữa , tán tụng là có cao kiến ! Tệ hơn nữa , xưa cũng như nay , các ông luôn tranh đấu Đòi quyền lợi , Đòi tự do nơi cái nhà cầm quyền mà lúc nào các ông cũng dài mỏ chê bai .
Ông học giả Nguyễn Hiến Lê viết : « Tôi vốn có cảm tình với Việt Minh , với Cộng Sản . Tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp , Mỹ . Tôi phục tinh thần hy sinh , có kỷ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp » [ Hồi Ký – Tập III , trang 17-18 ] .
Ông học giả phục Cộng Sản , khinh các chính phủ quốc gia « bù nhìn » nhưng ông khôn lắm , ông cứ sống ở vùng quốc gia để an toàn , yên ổn ngồi soạn , viết hơn trăm tác phẩm .
Có khi nào ông học giả tự hỏi : Nếu ông « may mắn » được sống trong chế độ Cộng Sản , ông có thể nào xuất bản được 100 tác phẩm ? Ông cũng vờ vịt , làm như không biết bọn Bắc cộng là tay sai của Nga , Tàu . Khi những kẻ mà ông « sẵn lòng giúp » , dùng thế lực và sự trợ giúp của Cộng Sản quốc tế , cướp được miền Nam , như ông mong muốn , ông Lê đã trắng mắt , nhìn chúng cướp tiền ông dành dụm trong ngân hàng , do ông khổ công dài lưng nặn óc viết văn ; chúng đã chiếm nhà ông ở Long Xuyên ; chúng « treo bút » của ông , khiến ông không còn cho được tác phẩm nào ra đời ! Ông phải âm thầm xé một số tác phẩm ông dầy công tra cứu , viết lách , thành giấy vụn . Ông cũng kinh hãi , không còn dám nghĩ đến chuyện về thăm cố hương miền Bắc , thăm căn nhà ở ngõ Phất Lộc , tại Hà Nội , nơi có nhà mồ lão quái « Hồ Chủ Tịch mà tám chín phần mười người Việt kính mến » [ Hồi Ký tập III , tr 20 ] , chỉ vì Miền Bắc nay đã tan hoang , sau khi Việt Cộng xây dựng « thành công » cái mà chúng gọi là chủ nghĩa xã hội ! Nhưng dù sao ông Lê cũng còn lương thiện .
Trong cuốn Hồi Ký – Tập III , ông đã thành thực mô tả cái xã hội xấu xa mà bọn cộng đã áp đặt lên Miền Nam sau năm 1975 , và tuy quá muộn màng để hối lỗi , ông đã không tiếc lời mạt sát bọn cướp vô học khi chúng đã phô trương hết sự bịp bợm và tàn ác , sau ngày thành công cướp đoạt chính quyền Miền Nam . Vào lúc bọn Việt Cộng phải chọn « đổi mới hay là chết » , như chúng nói , chúng đã cho in Hồi Ký của ông Lê . Nhưng bản chất lưu manh cố hữu , chúng chỉ cho in nhưng phần ông Lê đã lầm lạc khen chúng , và xoá đi những trang ông chửi cha chúng nó . Việt Cộng cũng lập lờ đánh lận con đen , để đồng bào hiểu lầm , là ông học giả ủng hộ chúng , bằng cách đặt tên một con đường nhỏ , đâu đó trong thành Hồ , là đường Nguyễn Hiến Lê . Tôi sở dĩ viết về ông Lê trước tiên , vì ông là một người tôi ngưỡng phục . Ông Lê học giả mà còn hiểu về Cộng Sản như thế , thì những ông , bà trí thức « học thiệt » khác , sẽ thờ cộng như thế nào ! Vâng , chúng ta hãy điểm qua vài ba trí thức khác , đã bán linh hồn cho quỷ , để thấy « mỗi người một vẻ » , họ đã góp sức đưa cái xiềng Cộng Sản và cổ dân ta như thế nào . Ông Nguyễn Hiến Lê mất ngày 22 tháng 12 năm 1984 .
 
2 - Trí Thức Nguyễn Mạnh Tường
Nói tới tên ông , nhiều người Việt nghĩ ngay tới việc ông đỗ hai bằng tiến sĩ , Văn và Luật tại Montpellier , Pháp trong một năm , lúc mới 23 tuổi . Ngoài ra , người ta không nhớ ông đã làm được công nghiệp gì tương xứng với tài năng và công lao học tập ! Điều đó không có chi lạ . Ông đã theo « Hồ tặc » đi kháng chiến , và kể từ lúc ấy , đời ông kể như đã đi vào ngõ cụt . Đã có quá nhiều sách báo nói về ông Nguyễn Mạnh Tường và những tháng ngày thê thảm của ông và gia đình ông , dù bản thân ông chưa phải là trái chanh đã hết nước trong tay Cộng . Nếu không đọc cuốn sách Un Excommunié do chính ông viết , chúng ta khó tương tượng ông « lưỡng khoa tiến sĩ » này lại bị đau nhục dưới tay « vượn người » như thế ! Nhưng vì đâu nên nỗi ?
Hoàn cảnh lịch sử ? Lòng yêu nước , hay sự bịp bợm của Cộng Sản đã đưa ông vào thảm trạng ?
Năm 1936 , cậu thanh niên 27 tuổi , với hai bằng tiến sĩ từ mẫu quốc hồi hương , tương lai sáng rỡ như mặt trăng mặt trời . Cậu trở thành giáo sư trường Lycée du Protectorat tức trường Bưởi , rồi cậu mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự tại thủ đô Hà Nội . Khi Cộng Sản cướp chính quyền , cậu hào hứng hiến luôn cả hai biệt thự cho nhà nước . Kháng chiến bùng nổ , cậu không ngại gian lao , xách khăn gói vào Khu Tư , tức Thanh Hoá theo « Bác « .
Chiến tranh tạm ngừng năm 1954 , nhà trí thức lúc ấy đã mỏi mệt vì những điều tai nghe , mắt thấy về Đảng và « bác » , nhưng cổ đã vướng tròng , khó bề thoát ra . Trở về Hà Nội , ông được Cộng Sản ấn vào tay một lô chức tước « phó » , vô danh và ... vô thực luôn : Phó Chủ Tịch Hội Luật Gia Việt Nam , phó Trưởng khoa Đại Học Sư Phạm , thành viên Hội Hữu Nghị Việt-Xô … « Đó là các chức vụ hoàn toàn có tính cách lễ nghi , không hiệu năng mà cũng chằng có thực quyền , đó là những chức vụ mà tôi chỉ là kẻ dư thừa « .
Năm 1956 , có phong trào Đòi tự do , dân chủ của các báo Nhân Văn , Giai Phẩm . Báo Nhân Văn đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Tường . Ông vạch trần tính chất phản dân hại nước của Cộng Sản : « Đảng Viên đảng Lao Động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tính thần dân chủ , xa lìa quần chúng , tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình ... » .
Dĩ nhiên , ông cũng còn tin Cộng Sản có thể sửa đổi được , và ông đề nghị những biện pháp sửa đổi ! Ngày nay , dù đã có một tay Cộng Sản gộc , chính tông , là Boris Yelsin bỏ đảng và tuyên bố « Cộng Sản không thể sửa đổi » , nhiều ông trí thức của ta vẫn tin rằng có thể dùng kiến nghị , thư ngỏ ... để thay đổi chính sách của Cộng Sản . Cộng Sản dĩ nhiên không thèm đếm xỉa gì đến những đề nghị của ông Tường ; nhưng lãnh đạo Cộng Sản lại dương những con mắt cú vọ quan sát , nhằm « chiếu tướng » ông trí thức . Ngày 30 tháng 10 năm 1956 , ông luật sư , giáo sư , kiêm luôn bao nhiêu chức Phó và Thành viên các hội , đọc một bài diễn văn tại cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc , phân tích những khốc hại đẫm máu của việc Cải Cách Ruộng Đất , và đề ra phương hướng để tránh mắc lại ! Ông Trí thức lúc ấy chắc vẫn tin là Cộng Sản mắc « sai lầm » , chứ không phải là chúng chủ tâm và tỉ mỉ hoạch định đủ phương kế để giết người và cướp đất ruộng . Sau bài diễn văn với những đề nghị này , nọ của ông , dây thừng quanh cổ ông được Cộng Sản xiết chặt lại . Bao nhiêu chức tước vớ vẩn của ông được gỡ sạch . Ông bị đưa ra đấu tố tại trường Đại Học cho học trò ông xỉ vả , mắng mỏ ; ông bị ra trước Mặt Trận Tổ Quốc để các « đồng chí » của ông đấu đá . Ông bị các đảng viên đảng Xã Hội , một đảng bù nhìn do Cộng Sản nặn ra để trang trí cho chế độ , đấu tố ông lần chót . Ông chống trả rất can trường , với lập luận sắc bén của một luật sư có tài . Nhưng rồi ông đau khổ nhận rằng : « Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói » .
Số phận ông đã được Cộng đảng quyết định : Bỏ cho chết đói giữa một sa mạc hận thù không lối thoát . Ông than thở« Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990 , hơn ba mươi năm dài đằng đẵng ! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt , tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật ! »
Trong ba mươi năm dài ấy , nhà trí thức sống ra sao ?
Ông kể lại : « Trước tiên , loại bỏ ngay buổi ăn sáng , một thói quen sa hoa của những người tư sản . Tiếp đến , cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tố́i . Khẩu phần cơm rau mỗi ngày một ít đi , và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn . Vợ và con gái tôi ốm đi trông thấy . Bao nhiêu sáng láng đã biến mất trên khuôn mặt dài ra vì ốm đói « .
Trong cơn khốn cùng như thế , gia đình ông Tiến Sĩ « may mắn » có được một con gà mái « mắn đẻ một cách đáng ngạc nhiên » . Mỗi ngày con gà cho một trái trứng , và mỗi người trong gia đình thay phiên nhau hưởng . Muốn cho gà đẻ trứng , thì phải cho nó ăn . Khốn nỗi người còn sắp chết đói , lấy đâu gạo , bắp cho gà ! Nhà trí thức « phát huy sáng kiến » : « mỗi ngày , vào lúc hoàng hôn , khi chợ đã vắng người mua bán , tôi lượn quanh để lén nhặt những mảnh rau vụn , tránh không để người qua đường nhìn thấy , mang về nuôi nó » .
Thê thảm không còn gì để nói ! Nhưng con gà , dù mắn đẻ , tất cũng không nuôi sống nổi cả gia đình của ông tiến sĩ . Ông phải đau khổ , năn nỉ những kẻ có tiền để họ mua những thứ ông có thể vơ vét ở trong nhà : sách vở , quần áo của ông , son phấn , tóc giả của bà , muỗng nĩa trong bếp ... Giống hệt tình cảnh của toàn dân miền Nam năm 1975 khi được cộng « giải phóng « . Ba mươi năm vật lộn mỏi mòn , chỉ để khỏi chết đói !
Cộng Sản đã trả công cho sự nhiệt thành và công lao hạn mã của ông bằng cái đói và nhục . Nhiệt thành , say sưa , vì khi Cộng mới nổi lên , ông đã đem tất cả nhà cửa hiến dâng cho đảng . Công lao hãn mã , vì ông đã lặn lội sang tận thủ đô Bruxelles của Bỉ , năm 1956 , đem tài hùng biện , chứng minh với Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ thế giới , là Bắc cộng có « chính nghĩa » khi dùng súng đạn để « giải phóng miền Nam » Nhưng xem tư cách và sự phản ứng can trường của ông trong suốt 30 năm bị cộng mưu dìm cho chết , chúng ta ngậm ngùi thương ông hơn là oán giận . Ông đã lạc đường vào lịch sử và bị vây bọc trong hoàn cảnh khó khăn . Không khuất phục được ông , bọn cộng vô học ghen , tức , đầy đoạ và hạ nhục ông .
So sánh với những anh « trí thức » hải ngoại ngày nay , từng kinh hoàng bỏ chạy khi Cộng Sản tới , lại được chứng kiến sự tan rã tận gốc của cái chủ thuyết giết người tàn độc , mà vẫn xun xoe đưa đầu cho cộng sai khiến , chúng ta phải kinh ngạc về sự « khả uý » của các « trí thức » hậu sinh . Ông Nguyễn Mạnh Tường có lẽ đã trả được mối thù với bọn Việt Cộng bằng cách mô tả sự tàn độc của chúng trong hai cuốn Hồi Ký mà ông để lại cho đời .
Ông đã thảnh thơi từ giã cuộc đời ngày 13/06/1997 .
 
3 . Trí thức Dương Quỳnh Hoa 
Bà Dương Quỳnh Hoa sinh trưởng trong tầng lớp thượng lưu của xã hội Việt Nam . Bà theo học y khoa tại Sài Gòn rồi sang Pháp năm 1948 học tiếp và đỗ bác sĩ năm 1953 . Ăn phải bả Cộng Sản , bà liên lạc với Cộng Sản Pháp , gia nhập cộng đảng vào cuối thập niên 1950 và hoạt động cho Cộng trong thời gian ở Pháp từ 1948 đến 1954 . Sau 1954 , bà về Sài Gòn nằm vùng và do thám cho cộng . Năm 1960 , được bọn Bắc cộng giựt dây , bọn theo cộng miền Nam thành lập Mặt Trận Giải Phóng . Bà Hoa là một sáng lập viên của cái Mặt Trận này . Năm 1968 , sau vụ đại bại của cộng quân , mụ cùng chồng trốn ra bưng với Việt Cộng , và được cho làm Bộ Trưởng Y Tế . Trong thời gian ở trong bưng , đứa con trai nhỏ của mụ đã chết vì bệnh sưng màng não . Chồng bà là Huỳnh Văn Nghị được cộng dụ dỗ cho nhập Đảng ; nhưng ông Nghị nhận rõ bộ mặt thật của bọn giải phóng , nên tìm cách khước từ « vinh dự » đó . Năm 1975 , sau khi chiếm được Miền Nam , bọn Bắc Cộng ra tay xoá sổ cái Mặt Trận Giải Phóng .
Những anh chị trót bán linh hồn cho quỷ trong Mặt Trận , như các anh Nguyễn Hữu Thọ , Huỳnh Tấn Phát , Trương Như Tảng ... và bọn lủng lẳng đứng giữa như Nguyễn Ngọc Lan , Chân Tín , Lý Quý Chung , Lý Chánh Trung ... đều vỡ mặt , tẽn tò như một lũ con nít bị lừa không được ăn kẹo ! Chính bà Hoa sau này đã thú nhận việc đi theo Cộng là một ảo tưởng chính trị trong đời bà . Ngày 17 tháng 10 năm 1996 , khi được tờ báo Far Eastern Economic Review phỏng vấn : « Quel est l’évenement le plus marquant pendant les 50 années passées ? »
Bà trả lời : « L’effondement du mur de Berlin qui a mis un term à la « grande illusion » .
Dịch tạm : Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua ?
Bà DQH : Đó là sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một « ảo tưởng lớn »
Khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của Cộng Sản Việt Nam , bà nói : « Tôi đã là người Cộng Sản cả đời tôi . Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa Cộng Sản và sự thất bại của nó , quản trị kém , tham nhũng , đặc quyền , áp chế , lý tưởng của tôi đã hết » . [ I have been a communist all my life , but now I’ve seen the realities of Communist , and it is a failure - mismanagement , corruption , repression . My ideals are gone » ] .
Cuối thập niên 1970 , bà nói với Nguyễn Hữu Thọ : « Tôi và anh chỉ là những kẻ bù nhìn , là những món đồ trang sức rẻ tiền . Chúng ta không thể nào phục vụ một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ « .
Khi được phỏng vấn về bọn lãnh đạo Việt Cộng , bà lạnh lùng trả lời : « Đó là những kẻ ngu si đần độn , bởi vì họ là Cộng Sản » .
Trong những câu bà Hoa nói trên , chúng ta nên chú ý đến câu « Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa Cộng Sản ... »
Đó chính là một lời thú nhận là : dù học hành nhiều như bà , được sống trong một nước tự do như nước Pháp , có thừa phương tiện tìm hiểu , nghiên cứu , bà đã không biết gì về chủ nghĩa Cộng Sản !
Ngày 25/02/2006 , người nữ cán bộ Cộng Sản đã góp công không nhỏ cho Cộng Sản đặt cái ách khốn cùng trên đầu đồng bào của bà , lặng lẽ bị các oan hồn chết vì giặc cộng , đưa về trước Diêm Vương để nghe phán xét tội lỗi . Cái bạo quyền bà đã hy sinh hết tuổi thanh xuân và tài năng để dựng nên nó , không có được một lời nói về bà . Mang « ảo tưởng » , tự hiến mình làm « bù nhìn , đồ trang sức rẻ tiền » , « không biết sự thật về Cộng Sản mà vẫn theo chúng » thì kết quả đương nhiên chỉ có như thế .
Các vị trí thức tiền bối như Nguyễn Mạnh Tường , Nguyễn Hiến Lê , Dương Quỳnh Hoa , do hoàn cảnh lịch sử hoặc do sai lầm nhất thời , đã có lúc theo cộng hay thân cộng . Nhưng khi nhận rõ bộ mặt phản dân hại nước của Cộng Sản , họ đã có phản ứng quyết liệt . Trí thức Nguyễn Manh Tường đã dõng dạc tuyên bố : « Tôi không hề tham gia mặt trận Việt Minh . Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước , luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước . Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức . Mà người trí thức , muốn độc lập , thì không nên tham chính . Người trí thức phải đứng về phía nhân dân , chứ không đứng về phía nhà cầm quyền » .
Ông cũng đã can đảm nhận chịu 30 năm đoạ đầy thê thảm chứ không đầu hàng cộng . Khi thoát khỏi sự kiềm chế của Cộng Sản , ông đã viết hai cuốn sách :
( 1 ) Un Excommunié – http://www.ethongluan.org/ và
( 2 ) Une Voix Dans La Nuit http://www.viet.rfi.fr/viêtnam/20110918-plan-vii-nguyenmanh-tuong-tieu-thuyet-une-voix-dans-la-nuit-ii-van-de-tri-thuc-v , bày tỏ lập trường của trí thức , và mô tả sự xấu xa tàn độc của Cộng Sản . Cuốn Une Voix Dans La Nuit , [ chưa xuất bản , được bà Thuỵ Khuê trích dẫn và bình luận trong Website của RFI ] viết về về sự thiết lập chế độ ác ôn Cộng Sản ở Việt Nam . Ông viết xong vào năm 1993 , lúc đã 85 tuổi , chứng tỏ ông trí thức vẫn nặng lòng vì đất nước . Bà Dương Quỳnh Hoa cũng dứt khoát vứt bỏ mọi ưu tiên mà chế độ dành cho bà , để quay về vị trí của người trí thức .
Những trí thức nói trên , nhất là tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường , vẫn còn lưu lại trong lòng chúng ta sự ngậm ngùi thương tiếc . Còn như cái loại trí thức của nợ dưới đây , và những loại trí thức hải ngoại ngày nay như Nguyễn Hữu Liêm , Trần Chung Ngọc ... thì chỉ để lại lòng khinh ghét vì sự ngu xuẩn và sự ham danh lợi của họ .
 
4 . Trí thức Ngô Bá Thành
Bà này tên thật là Phạm Thị Thanh Vân , con của ông Bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến . Sinh năm 1931 tại Hà Tĩnh . Mới 18 tuổi đã lấy chồng là ông Ngô Bá Thành . Hai vợ chồng sau đó qua Pháp du học . Bà học luật , ông học thú y . Năm 1957 bà đỗ tiến sĩ luật . Năm 1963 mụ về nước và bắt đầu những ngày quậy phá đất nước . Năm 1970 , mụ tự phong là « Chủ Tịch Uỷ Ban Phụ Nữ Đòi Quyền Sống » , cái tên nghe khá buồn cười , báo chí thời đó diễu là « phụ nữ Đòi quyền sướng » . Trong bối cảnh đất nước tan hoang vì đảo chánh , tranh giành quyền lực , sư Cộng Sản Trí Quang đã tổ chức lễ ra mắt cái QUỷ Ban này tại chùa Ấn Quang , cho thấy rõ mạt cưa , mướp đắng dập dìu với nhau . Vào thời gian đó , nếu có ai nói rằng mụ Thành và sư hổ mang Trí Quang là Cộng Sản , ắt sẽ có nhiều ông bà trí thức theo cộng tru tréo kêu oan dùm họ , và xỉ vả kẻ tố cáo đó là « chống cộng cực đoan , chụp mũ bừa bãi « . Trong suốt thời kỳ của của nền đệ nhị Công Hoà , mụ Bá Thành đã quậy phá , biểu tình liên tục . Huỳnh Tấn Mẫm , một tên Cộng Sản nằm vùng , viết về « công lao » của mụ đối với bọn cộng nằm vùng như sau : « ... Một lần tổng hội sinh viên của chúng tôi bị bao vây chặt đang lúc họp bàn , triển khai phong trào đốt xe Mỹ ở 207 Hồng Bàng , cảnh sát vây kín chung quanh , quay giây kẽm gai vòng trong vòng ngoài . Giữa lúc chúng tôi đang nát óc nghĩ cách thoát khỏi , thì ai đó reo lên : chị Thành đến ! Qua hàng rào kẽm gai , chúng tôi thấy chị dẫn theo hàng ngàn ( ? ) người , từ học sinh , sinh viên , các ba má phong trào , đến tăng ni phật tử . Chị lớn tiếng tranh luận với cảnh sát về pháp luật , hiến pháp , nhưng chúng vẫn không hạ súng . Thế là chị ra hiệu cho mọi người ào lên giật súng , dùi cui , kéo dây kẽm gai ... Cảnh sát chạy mất , chúng tôi được giải thoát ! »
Bỏ đi những chuyện hoa lá cành , mô tả láo khoét của tên Việt Cộng Huỳnh Tấn Mẫm , chúng ta còn thấy được vài sự thực : Một trí thức có bằng tiến sĩ luật , đi « trâu đánh » Đòi quyền sống , mà hành động như một con nặc nô đi đánh ghen , và sự quá mềm mỏng dễ dãi của những người cảnh sát có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự . Chúng ta thua giặc vì chúng ta cư xử như một con người , trong lúc bọn cộng khát máu lồng lộn , điên cuồng cắn xé như loài thú ! Naynhững ông trí thức co gìo chạy trước khi nếm mùi nanh vuốt của Cộng Sản , vẫn như đi trên mây . Các ông chửi người tỵ nạn , kẻ mất cha , người mất chồng , mất con trong trại tù , trên đường vượt biển là bọn chống cộng cực đoan , hạ cấp , các ông nghĩ sao về con mụ trí thức có bằng tiến sĩ luật đã cư xử điên cuồng đến mức khó tưởng tượng như sau : « ... Có lần bị bắt giam ở khám Chí Hoà , bị gọi lên lấy khẩu cung , vừa bước vào phòng , bà [ NBT ] đã làm cả giám thị lẫn cảnh sát mất hồn khi rút chiếc guốc dưới chân ra đập nát tấm hình Nguyễn Văn Thiệu đang treo trên tường ! »
Tôi cho rằng đây chỉ là chuyện phét lác của mấy anh theo cộng , bịa chuyện đánh bóng một cách ngu xuẩn hành động nặc nô của một bà tiến sĩ luật , lòng dạ sôi sục vì danh lợi , đầu óc không còn suy nghĩ . Chuyện giản dị dễ thấy , là bức hình Tổng Thống trong các công sở , thường được treo trên cao , ngoài tầm tay , nhất là tầm với của một phụ nữ . Vả lại , một phạm nhân bị dẫn giải đi hỏi cung , đột nhiên rút guốc , rút giầy lên cầm tay , tất phải khiến cho người cảnh sát áp giải ra tay đề phòng , thay vì bị « hết hồn » như « sáng tác » của các văn nô chuyên nghề mạ kền , đánh bóng . Nhưng nếu chuyện sảy ra đúng như các « đồng chí » mô tả , thì các ngài trí thức hải ngoại đang tấp tểnh lập công với Đảng , chuyên chửi người tỵ nạn là cực đoan , hạ cấp , thấy hành động của bà tiến sĩ luật là ... đúng luật , là không hạ cấp hay sao là không cực đoan hay sao . Còn như cái đám tập hợp theo bà Thành , được bà gọi là « Phụ Nữ Đòi Quyền Sống » , là đòi cái chi vậy ? Trí óc lươn lẹo , nên lời lẽ ấp úng ! Phụ nữ Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hoà không có quyền sống hay sao ? Hay là họ bị chèn ép , bị đàn áp , kỳ thị , bị đem ra làm đồ buôn bán như ngày nay . Không có đâu . Nhưng chẳng lẽ mụ Thành lại nói toạc móng heo ra cái tên thực của cái đám người theo mụ là « Phụ Nữ Đòi Quyền Theo Cộng » Đúng ! mụ và cả cái đám theo mụ chỉ muốn đòi quyền theo « Bác » . Nay chuyện này đã trần truồng dưới ánh sáng chói lọi của sự thực , không còn thầy trí thức theo Cộng nào kêu là « chụp mũ » cho bà Thành nữa nhé ! Khi Cộng chiếm đoạt được miền Nam , con hồ ly cái này đã hiện nguyên hình là con chồn hôi Cộng Sản . Tuy nhiên , miếng xương mà cộng thẩy cho mụ để trả công bao năm phá thối VNCH cũng không lớn .
Được Cộng cho vào ngồi trong cái đám chỉ biết gật và vỗ tay , có tên là « cuốc hội » , trong ba bốn khoá , mụ đã « đòi quyền sống » cho người phụ nữ như thế nào ? Phụ nữ ta , từ ngày có mụ Thành làm đại diện , đã đòi được cái « quyền » đứng khắp nẻo đường , vẫy gọi nam giới , bán món hàng trời cho . Không phải chỉ ở Sài Gòn , mà còn khắp các đô thị trong nước . Như ở bến Ninh Kiều - Cần Thơ chẳng hạn .
« Chiều chiều dạo bến Ninh Kiều .
 Dưới chân tượng bác , đĩ nhiều hơn dân »
Mụ cũng « Đòi » cho phụ nữ ta được « quyền » thoát y cho bọn ngoại nhân tàn tật , già nua của Đại Hàn , Tàu , Mã Lai ... sờ nắn , ngắm nhìn trước khi thẩy ra mấy ngàn đô , mua như súc vật , đem về làm nô lệ tình dục .
Thảm cảnh và máu lệ ngút trời của phụ nữ như thế , nhưng chớ bao giờ thấy con mụ « Đòi quyền sống » này há miệng « trâu đánh » đòi hỏi cái chi , dù chỉ đòi theo pháp luật của cộng đảng ! Đáng lý , mụ Thành nên rút guốc đập vào mặt hình lão già râu đang ngồi trên đầu mụ . Nhưng Mụ không còn bộ não để suy xét , và mụ còn bận rộn chõ mõm , gân cổ lên , làm các chuyện ruồi bu khác . Một văn nô « luật sư » cộng , tên là Đỗ Minh Ánh , đã tán tụng « người phụ nữ viết nên huyền thoại » của hắn ta như sau : « Là một luật sư đã từng được đào tạo ở Mỹ , bà khẳng định Đạo Luật Nhân quyền ở Việt Nam của Mỹ không có giá trị pháp lý . Bà cũng đã tỏ rõ quan điểm phản đối gay gắt một tiểu bang ở Mỹ đã cho phép treo cờ ba sọc »
Xin bỏ qua cách viết văn « sáng sủa » của ông « luật sư » khi ông viết « Đạo luật nhân quyền ‘ở’ Việt Nam của Mỹ » , tôi xin có ý kiến về cái mà mụ « luật sư được đào tạo ở Mỹ » kêu là « giá trị pháp lý » của đạo luật nhân quyền Mỹ . Theo sự ngu dốt về luật pháp của tôi , thì bất cứ đạo luật nào đã được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn , được Tổng Thống Mỹ ký ban hành , nó đều có giá trị pháp lý đối với dân Mỹ . Mỹ nó thấy Việt Cộng không có nhân quyền . Nó làm luật , liệt xứ Việt Cộng vào danh sách các nước không có nhân quyền , theo tiêu chuẩn nhân quyền của nó . Việc đếch gì đến những anh khác , trong các nước khác . Nếu muốn diễn tuồng tận trung với Đảng , mụ Thành và đám chuyên viên gật trong cái « cuốc hội » ở Ba Đình nên hè nhau viết một đạo luật nhân quyền Việt Nam « ở » Mỹ , rồi đem ra biểu quyết với nhau cho Mỹ nó sợ . Cam đoan chẳng có ma nào nói gì đến cái « giá trị pháp lý » của mụ đâu . Những cái « khẳng định , phản đối gay gắt ... » của mụ Thành chỉ « khẳng định » một điều : mụ đã đội lốt nhiều thứ để « đòi quyền » , để « trâu đánh » , nhưng trong xương tuỷ , mụ là một kẻ « mót » công danh , mù quáng theo Cộng Sản ngay từ ngày mụ vờ vịt giả hình « đòi quyền sướng » .
Ngày 03/02/2004 , « chị Thành » đã bị quỷ vương thình lình tới nhà bắt mụ đi đền tội ác .
Bài viết của tôi về các ông bà trí thức theo cộng , cứ đà này , có thể kéo dài thành một cuốn sách dầy . Không thể đăng báo Nội San được . Thôi đành ngưng lại , dù có vì thế mà không thể nhắc tới bao nhiêu tên tai to mặt lớn khác , cũng cuồng nhiệt theo Cộng và cũng đã phải cười đau khóc hận khi Cộng chiếm trọn quyền thống trị . Như trí thức Châu Tâm Luân , tiến sĩ kinh tế tại đại học Illinois , khi về nước đã ngang nhiên ca tụng cộng trong khi giảng dậy và đã ôm đầu máu chạy trốn đi một xứ có ít người tỵ nạn , để khỏi bị chỉ mặt , đặt tên . Như Trí thức « bạc đầu đen óc » Phó Bá Long , « lòng chua sót , dạ bồi hồi » , xum xoe ngâm thơ con cóc bên Võ Văn Kiệt , và cúi xin Kiệt « ân xá » cho người Việt tỵ nạn , rồi cũng lặng lẽ chuồn đi một nơi không có Cộng Sản để chết già ! Như trí thức Trương Như Tảng , vốn tin rằng Cộng Sản cũng có luật pháp , nên đã ăn cái bả « Bộ Trưởng Tư Pháp Việt Cộng .
Ông Đoàn Thanh Liêm viết rằng : trước khi ra Bắc vào năm 1976 , để nghe Cộng Sản Hà Nội nói về việc lập chính phủ thống nhất , Trương Như Tảng còn « hồ hởi » trấn an « nhóm Luật gia chúng tôi » : « Các anh chị em Luật gia hiện cộng tác với chúng tôi trong Bộ Tư Pháp này đều là ‘vốn quý của đất nước’ ; do vậy mà Nhà Nước Cách Mạng sẽ tìm cách sử dụng đúng mức cái nguồn vốn này . Tôi xin đoan chắc với quý anh chị em là bây giờ ta có hoà bình rồi , thì trong chánh phủ mới sẽ có Bộ Tư Pháp để phụ trách quản lý toàn bộ khối công tác thuộc lãnh vực pháp lý ... »
Chết đến đít vẫn còn ảo tưởng ! Bộ Tư Pháp chẳng thấy đâu , mà ông « bộ trưởng » lại trở thành thuyền nhân « liều mình xuống ghe vượt thoát khỏi Việt Nam » để sống sót và viết hồi Ký « Mémoires d’un Vietcong » . Và còn vô số những trí thức nằm vùng khác , như Chân Tín , Trần Ngọc Liễng , Lý Quý Chung , Lý Chánh Trung , Thích Nhất Hạnh , Vũ Hạnh ... một đời dối trá , tôn vinh cái ác , vu cáo điều thiện , đã được Cộng Sản quăng cho cái xương thừa để gặm chưa ? Mong rằng sau này , ai đó sẽ sẽ tập hợp các tên phản quốc này trong một cuốn sách để lưu xú vạn niên cho hậu thế .
Ngày nay , tại hải ngoại , cũng vì hai chữ Lợi , Danh , và để làm vui lòng chủ mới Cộng Sản , nhiều ông trí thức đã chôn sâu cái căn cước tỵ nạn Cộng Sản , tự gọi mình chỉ là « người sinh sống ở nước ngoài » ôm ấp ảo tưởng : khoe khoang bằng cấp , chức vụ cũ , van vái Cộng Sản chiếu cố , ban ơn hoặc khen thưởng ! Khi ông giáo sư , tiến sĩ triết , khua chiêng đánh trống , để Cộng Sản chú ý tới ông , hy vọng nó ban cho ông một chút lợi lộc gì , ấy là ông đã quên béng một cái triết lý rẻ tiền này : Bất cứ bọn cướp nào , sau một vụ cướp bóc thành công , chỉ chia phần cho đồng bọn . Trong nội bộ với nhau , chúng còn tranh giành quyết liệt , đòi được phần béo bở . Những anh không góp công trong vụ ăn cướp , hoặc tệ hơn , đã là kỳ đà cản mũi chúng , nay thấy chúng có ăn , lại vác mặt dầy đến xin , thì chỉ có thể được bãi nước bọt vào mặt ! Triết lý ba xu ấy mà không biết thì ... còn triết được cái gì . Nếu bà Dương Quỳnh Hoa và bao nhiêu trí thức một đời theo cộng , đã chấm dứt cái « grande illusion « , thì các ông trí thức thân cộng ở hải ngoại lại đang ve vuốt cái « great delusion » , là sẽ được « trên » trông xuống , ban ra một ơn huệ , cho các ông tham gia bữa tiệc « đổi mới » làm bằng máu xương dân Việt . Xin các ông hãy đối mặt với sự thực , tự hỏi mình vài câu đơn giản« Vì sao các ông bà phải trốn chạy đi sinh sống ở nước ngoài ? Tại sao Cộng Sản ‘tốt’ như thế mà các ông không dám về nước để hoà hợp với chúng ? »
Các ông bà trí thức theo cộng ở hải ngoại cũng thường dè bỉu người tỵ nạn là « chống cộng ấu trĩ , thù dai , là cuồng tín , là cực đoan , là ưa chụp nón cối » lên đầu các ông .
Vâng , chúng tôi quả có chống cộng một cách « ấu trĩ » theo nhận định của quí vị . Bởi vì cứ ngửi thấy hơi Cộng Sản , là chúng tôi thấy ngay mùi máu tanh nồng của chết chóc , của tang thương ; cho nên chúng tôi phải bằng mọi cách trừ khử cái mùi tử khí đó , bất kể là phương tiện ấy ấu trĩ hay không . Còn nói chúng tôi « cực đoan » và « cuồng tín » thì tội cho chúng tôi biết bao ! Chúng tôi tưởng những kẻ mà quý vị đang dùng bao phương kế lươn lẹo để xin ban ân , còn cực đoan và cuồng tín hơn người tỵ nạn chúng tôi cả ngàn lần ! Cáo Hồ là một ác quỷ , phạm đủ các tội ác kinh khiếp , nhưng đã được bọn Cộng tôn lên hàng thần thánh . Muốn thử sự cuồng tín của Việt Cộng , các ông hãy nói ra , dù chỉ một chút sự thật về già Hồ , xem bọn cộng phản ứng ra sao ?
Xin hỏi :
- Ai đã bao năm mê muội , cuồng tín với cái « tôn giáo » mới nhập từ Nga , Tầu , đến mức quyết tâm diệt trừ mọi tôn giáo khác , để độc quyền thờ cúng Mac-Lê ?
- Ai đã cực đoan đến nỗi đào mổ cuốc mả , bắn thủng mắt những tấm hình trên mộ bia nghĩa trang quân đội . Ai đã áp lực đục phá những tấm bia tỵ nạn trên các đảo vùng Đông Nam Á .
- Ai đã chủ trương thà giết lầm người còn hơn bỏ sót . Ai đã dùng « lý lịch ba đời » để gạt bỏ các con em miền Nam trong việc học hành , sinh sống .
- Ai đã bỏ tù , giết chóc không gớm tay , ngay các đồng chí của mình , chỉ vì một ý kiến bất đồng . Những cái đó chắc không phải là cực đoan và cuồng tín .
Kể sao cho xiết . Còn như cho là chúng tôi ưa « chụp nón cối » , thì chính chúng tôi có quyền phàn nàn về cái trí nhớ quá đoản kỳ của quý ông bà .
Xin hãy ngoảnh nhìn quá khứ thật gần .
Những tên như Huỳnh Tấn Mẫm , mụ Ngô Bá Thành , Thích Trí Quang , Vũ Hạnh , Lý Chánh Trung , Lý Quý Chung , Trịnh Công Sơn ... và bao nhiêu tên theo cộng , núp dưới đủ thứ chiêu bài tốt đẹp , cũng quỷ quyệt né tránh cái tội ác Cộng Sản nằm vùng , kêu oan , là « bị chụp mũ » thân cộng hay theo cộng . Các tên đó trước đây la to bao nhiêu để phản đối « bị chụp mũ » , thì khi cộng chiếm miền Nam , họ cũng gào lớn như thế để « báo công » với cộng . Trong quá khứ , chúng tôi đã điểm đúng mặt « lũ ong tay áo , lũ khỉ dòm nhà » , thì ngày nay bọn ăn cháo đá bát , bọn tỵ nạn giả hình , cũng sẽ khó náu hình trong bóng tối để âm mưu chuyện ôm đít cộng .
Tổng Thống George W Bush , khi chủ toạ lễ khánh thành Tượng Đài Nạn Nhân Cộng Sản Thế giới ngày 12/06/2007 , đã phát biểu : « ... Đây là biểu tượng thảm hoạ kinh hoàng trong thế kỷ 20 của nhân loại nói chung , và 25 quốc gia bị Cộng Sản cai trị nói riêng . Từ nay , oan hồn của hơn 100 triệu nạn nhân Cộng Sản được những thế hệ hôm qua , hôm nay , và mai sau tưởng nhớ . Tưởng nhớ để tận diệt chế độ này đến tận gốc rễ , vì chế độ Cộng Sản là tàn bạo và phi nhân « .
100 triệu con người đã bỏ mạng vì Cộng Sản .
Dân Việt ta đã « đóng góp » vào núi xương sông máu này bao nhiêu triệu mạng . Xin các ngài trí thức thân cộng đừng kêu gọi chúng tôi đóng góp thêm nữa . Chúng tôi lúc nào cũng muốn đội các ngài lên đầu , xưng tụng các ngài là sư , là sĩ , để nghe lời chỉ giáo ; nhưng xin tha mạng , đừng mang ảo tưởng dụ chúng tôi quên tội ác của Cộng !
Ai tai ! viết mấy cho vừa !

Âm mưu phong thủy Tầu - Không thể không nói.

KTS Trần Thanh Vân
TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Lâu nay mọi người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thủy Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thủy của Kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nội mở rộng ngày nay thì họ hay hỏi tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế!

Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hóa 1000 năm Thăng Long, một nhóm nghiên cứu của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giữa chừng câu chuyện, họ hỏi tôi “Chị nghiên cứu đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”

– “Cái gì? 55 năm?”

– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”.

Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ. Vào đại học, tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thủy cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết.

Sự thật và trải nghiệm

Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Cộng mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cứu chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít ai có cơ hội để “hiểu” Trung Cộng hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải nói ra hôm nay để mọi người cùng biết.

Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời mọi người hay hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông / Chung một Biển Đông, thắm tình hữu nghị…”; trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung Quốc.

Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953

Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chịu cảnh máy bay bắn phá. Nhưng, cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cứu sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng gọi bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông ngoại tôi không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tạ ơn cứu mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp, mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi… Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.

Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nội. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cụi làm việc đó, mẹ tôi vừa nuôi sống cho gia đình và bản thân, vừa đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may / xào xạc rung cây lá lá bay / một mùa đông bao người đan áo…” chính là nói về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cứu quốc. Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sợi bông, nhuộm sợi thành các màu xanh, màu nâu, màu cỏ úa rồi đan thành áo gửi ra chiến trường, đã được ca ngợi như một chiến công lớn.

Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tội, có một người bạn thân hồi nhỏ của mẹ tôi là Bí thư chi bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông Bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.

Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vội vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vừa đặt chân đến Chợ Chu – Định Hóa – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối với một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay mọi người vẫn còn nhớ.

Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.

Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, mọi người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.

Kỷ niệm thứ hai: Trời phạt

Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hữu nghị Việt – Trung – Xô.

Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Cộng thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường dù chưa quen biết là người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hòa bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Cộng. Còn nhỏ xíu nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gối, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Tòa dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Cộng. Mỗi buổi sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột Cờ.

Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón TW Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Cộng tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buổi chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do Chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị – Phủ Tây Hồ.

Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn quàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thổi sáo Phùng Tử Tồn và hai người nữa. Mộ của họ mai táng ở nghĩa trang Bất Bạt huyện Ba Vì.

Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít mà vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới cơn lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Cộng và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nổi thứ tình hữu nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tội nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ?

Mấy chục năm sau, để giải tỏa tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu / Dấu nhà Trời ai thấu được đâu / Một dải khăn đào kết một cái cầu / Để hồ thẳm nước sâu / Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.

Du học ở Trung Cộng

Tuổ trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hồi nhỏ.

Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Cộng theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dạy dỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình.

Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông họa sĩ già hai bàn tay lấm mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà với cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.

Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hỏi: “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ gieo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hỏi như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Cộng ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Cộng phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chội của ký túc xá, bữa cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.

Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nữa ở cùng trong một ngôi nhà dành riêng cho giáo viên và trợ giảng. Đó là một tòa nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một dành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hóa ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan và tiểu đường rất cần bồi dưỡng nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xỉu, thấy vậy tôi hay đi mua thêm các thức ăn mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngồi hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hội, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn.

Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hóa nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các Giáo sư trong trường đã từng giảng dạy chúng tôi tận tình, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tĩu.

Là một đứa con gái xuất thân trong một gia đình có nền giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và sỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một nước Trung Hoa có truyền thống văn hóa lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Rất lâu về sau tôi vẫn không thể hàn gắn được vết thương như những nhát chém trong tim mình, về hình ảnh những Giáo sư đáng kính của chúng tôi bị hành hạ lên bờ xuống ruộng bởi chính những người bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy, nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố.

Chúng tôi rất sợ bị liên lụy nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”

Đó là giữa năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký. Chúng tôi khăn gói vội vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh Trường đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Cộng, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nổi tiếng Lý Đức Hóa, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ Bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu? Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bữa cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.

Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Cộng rất tốt, giới trí thức Trung Cộng cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nổi các nhà cầm quyền và thứ “tình hữu nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.

Chúng tôi rời Thượng Hải buồn bã và vội vàng như ma đuổi.

Thời kỳ đã trưởng thành

Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chịu của những ngày cuối cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi với khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến.

Sau đó, mỗi người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.

Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngồi tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.

Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể nói ra với ai. Tôi ở cùng nhà với một chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Cộng giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Mic bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói.

Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự quá đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo dõi và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nội bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Cộng thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời Trung cổ của họ mà thôi.

Trung Quốc hôm nay?

Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Cộng đã thay đổi rất nhiều và rất đáng kính nể. Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung Cộng đại nhảy vọt mà họ đang ra sức quảng bá, vẫn còn có một Trung Cộng khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung Hoa đã từng bị chà đạp, bị sỉ nhục và chịu nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyền hiện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào.

Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đổi rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng Tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vừa gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng” nói về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi. “Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rồi đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi nói vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”.

Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã dành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đổi của nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Cộng hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa nói, còn lớp người Trung Cộng thứ ba đang vừa là chỗ dựa vừa là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung Cộng: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thói quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa” để đối phó với các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nữa hoặc không sử dụng được nữa thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.

Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển gần một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp với công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vừa qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả Giám đốc Sở Tư pháp và nhiều sĩ quan công an.

Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Cộng hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Cộng đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều với vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tội phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lừa đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nội ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này.

Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.

TÔI HIỂU GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nội bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta, tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cứu các lý thuyết về phong thủy địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.

Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc sử dụng chữ gốc La-tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ XVI-XVII như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes (1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ XIX để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ XX là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine. Cám ơn các vị Giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ XX đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong thủy, Địa mạch và Kinh Dịch.

Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ Xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lứa tuổi của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thủy địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Cộng rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền thèm muốn chứ không phải nhân dân, bởi vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Cộng không hề được hưởng lợi.

Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich

Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, núi, sông… chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich


http://www.congdongnguoiviet.fr/Images/0911KhongTheKhongNoi1.jpg



Nước Trung Hoa hình quẻ chấn

Theo phân tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của KTS Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giữa Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gãy có nghĩa là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có mối quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.

Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết quả của một quá trình chiến tranh và đồng hóa lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nội chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao… đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giàu có và trù phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đàn áp ở ngay giữa Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.

Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cứu kỹ phong thủy địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được điểm yếu cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi hại đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya qua cao Tây Tạng, qua nguyên Vân Nam, qua đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống vịnh Hạ Long rôì đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở vịnh Mindanao Philippin. Đó cũng là mạch đất độc đáo nối từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sandwich đó, không cho nó trôi trượt đi, mà họ còn có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu.

* Sau hàng ngàn năm với nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán (người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hóa thì nhiều).

* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung Hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và hủy diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghĩa là Nhà nước Trung Cộng sẽ không thể đạt được cái họ muốn (Tây Tạng).

http://www.congdongnguoiviet.fr/Images/0911KhongTheKhongNoi2.jpg
Cung điện Tây Tạng Potola





Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bởi vì Phương Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền… Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?

Địa mạch Việt Nam: Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu

Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra dãy núi cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì đồng bằng Bắc Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch đất này (đọc Đại địa mạch quốc gia). Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Xi Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, tỏa ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của THĂNG LONG NÚI CHẦU SÔNG TỤ. Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng Kinh đô Thăng Long thì người Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ bí này và Cao Biền tấu thư kiểu tự là một trong những kết quả tìm kiếm công phu nhất. Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài giỏi gốc Mãn Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hội rất nhiều linh khí đất trời và sản sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt ông ta theo lệnh vua Đường Y Tông yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã xây thành Đại La, mưu đồ thực hiện mộng bá vương và đã bị vua Đường trị tội. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn.

Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phía Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.

Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á

Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có vịnh Bái Tử Long, và ngoài khơi xa của Hải Phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc vịnh Mindanao thuộc Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thừa của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước Trung Quốc không thay đổi. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bởi vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu Á và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không ?

Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh

Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu / Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.

http://www.congdongnguoiviet.fr/Images/0911KhongTheKhongNoi3.jpg





Núi chầu sông tụ Thăng Long theo hình thế Âm Dương

Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ XVI trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần mũi thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bởi vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác định thái độ và hành động của mình.

LỜI CUỐI BÀI

Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong mối quan hệ vơí Trung Cộng hiện nay. Bởi vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khỏi cõi u mê của sự hoang tưởng trong mối quan hệ với Trung Cộng. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dạy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dạy bảo của cha ông.

Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở họ và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?

Đông dân là một sức mạnh

Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Cộng mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào nói rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt.

Trong thế vận hôị 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động Tổ Chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.

Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để dọa nạt chúng ta và các nước trong vùng,

Mô hình hàng không mẫu hạm ở vũ Hán

Có điều, một thảm họa đông dân mà Nhà nước không vì dân thì Nhà nước sẽ khốn đốn. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải, Quảng Châu… đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.

Vậy thì mọi nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không?

KTS Trần Thanh Vân

CHIẾN TRANH, Bản Chất và Mục Đích - Trần Trung Chính

http://www.youtube.com/watch?v=uP_b7hjIxPc http://www.youtube.com/watch?v=_4k5ooMjUTQ http://www.youtube.com/watch?v=DB90Sus01T8

VGCS Đang Chuẩn Bị Những Chiêu Bài Mới (Ngô Bảo Châu)



Gần kề đến ngày VGCS tổ chức Đại Hội Việt Gian của chúng, lũ bán nước lại châu đầu tụ họp với nhau để chuẩn bị cho các sách lược mới. Nếu như mục tiêu của các kỳ Đại Hội Trước là ổn định tổ chức để phát triển kinh tế, nghĩa là tích tụ tiềm lực sức mạnh tài chính, thì chiến lược của chúng lần này sẽ là hướng tới sự xâm lược toàn diện để đoạt được quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống tư tưởng của người Việt Nam, kể cả trong và ngoài nước. Thực vậy, sau 8 năm kể từ Đại Hội 9 đến nay chúng đã thanh lọc đội ngũ, hất cẳng những kẻ mưu cầu cho phe cánh như Lê Khả Phiêu để tập chung thống nhất nghị quyết phát triển kinh tế, mà thực chất là đưa ra những bộ mặt cấp tiến giả tạo để kêu gọi đầu tư của hết thảy những kẻ tham lam với tầm nhìn của bọn ăn sổi. Thực tế đã cho thấy chúng phần nào đã thành công, bởi có những thời điểm sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam đã vượt xa sự tưởng tượng của chúng. Tuy nhiên, đó chỉ là những bong bóng trong mưa, chúng đã sớm chứng kiến cơn mưa đó tắt ngấm.

VGCS không phải là 1 bọn ngu lâu như người ta vẫn tưởng, mặc dù trình độ của chúng chỉ ở cỡ lớp 3 trường làng. Tất cả chúng ta những ai từng sống dưới chế độ cai trị của VGCS, đặc biệt là những người dân miền Bắc đều biết rằng, Hồ và đám tay chân của hắn chỉ toàn 1 lũ lưu manh, trộm cướp, đầu đường xó chợ, tuy nhiên, giúp sức cho chúng lại có những đội ngũ trí nô mà không ít trong số họ là những người có thực tài. Nếu ai còn nghi ngờ điều tôi vừa nói thì có thể tham khảo loạt bài “Trí Thức Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản” của nhà báo Việt Thường. Chính vì có sự cố vấn của đội ngũ trí nô này, nên chúng đã có những hoạch định hẳn hoi cho kế hoạch xâm lược và chiếm trọn Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn (CĐNVTN). Bước đầu chúng tung những con bài chiến lược như Bùi Tín ra Hải Ngoại để lót đường cho tụi tình báo và cán bộ tuyên huấn của chúng tràn tới. Sau đó là dùng sức mạnh tài chính để mua các trung tâm truyền thông. Và tới đây sẽ là thâu tóm các cộng đồng.

Sau khi tiến hành cuộc xâm lược bằng vũ trang trọn vẹn miền Nam, và bị Nga Xô hắt hủi như những con chó ghẻ, chúng đã thấm thía bài học sức mạnh của những đồng Dollar. Chính vì vậy, cuộc xâm lược của chúng vào những CĐNVTN sẽ là 1 cuộc chiến mà nhiều người sẽ không nhìn thấy sự khốc liệt của nó, bởi vì đó là những mặt trận không tiếng súng, không có giết tróc, không cảnh đầu rơi máu chảy, chỉ có sự vui vẻ với những bữa tiệc náo nhiệt, những tràng pháo tay nổ bôm bốp, những tiếng hộ khẩu hiệu, những lời tâng bốc xưng tụng nhau vv… Người ta sẽ không biết rằng mình đang chết dần chết mòn trong sự sung sướng, hệt như những con nghiền ma túy vậy. Một khi con nghiền đã trót trao thân cho Nàng Tiên Nâu thì chúng luôn phải nghe theo sự sai bảo của chất độc dược làm tê liệt hệ thần kinh này. Kết quả cuối cùng sẽ là, trọn vẹn 90 triệu người Việt Nam sẽ chịu sự cai trị toàn phần của VGCS.

Có một điều chúng không ngờ tới được là chúng đã vấp phải 1 sự phản ứng mãnh liệt từ những người mà chúng coi là Kẻ Bại Trận, lá bài Hòa Hợp Hòa Giải của chúng đã không thành công như dự tính. Mặc dù đã tốn rất nhiều tiền của, nhưng kết quả thu được của chúng cho đến nay vẫn chỉ là sự đầu hàng của những tên Việt Gian già trước đây đã từng có thời khoác áo Quốc Gia Chống Cộng thay vì những đội ngũ trí thức giàu chất xám ở độ tuổi sung sức và sáng tạo. Chúng vẫn đang tìm đủ mọi cách để chiêu dụ những con người này để uốn gối khom lưng chấp nhận làm trí nô cho chúng. Mặc dù đã có những kẻ không chịu nổi sự hấp dẫn ma lực của đồng tiền để chấp nhận làm tay sai cho chúng, song, đại bộ phận đã tỉnh táo và không bị mắc lừa.
GS Ngô Bảo Châu làm rạng danh VN
Việt gian Nguyễn Tấn Dũng & GS Ngô Bảo Châu.


Gần đây, Ngô Bảo Châu, 1 người được trao giải toán học Field đã được các cơ quan truyền thông của chúng đánh bóng lên tận mây xanh. Hắn về nước trong sự chào đón nồng nhiệt của cả bọn VGCS lần cả những người dân hiếu kỳ với tư cách Vinh Quy Bái Tổ. Tuy nhiên, ít ai biết rằng, công trình của Châu cũng chỉ là 1 đóng góp hạn chế trong toán học đại số Lie chứ chưa có gì là ghê gớm cả. Hơn nữa, giải Field là giải toán học, không có gì để so sánh với Nobel, bởi vì Nobel không bao giờ trao giải cho các nhà toán học. Hơn nữa, ngay cả Nobel, chính Albert Einstein cũng từng dè bỉu bởi vì đóng góp cho khoa học lớn nhất của ông là Thuyết Tương Đối thì không được thừa nhận trong khi 1 kế thừa của ông đối với Mark Plank thì lại được trao giải Nobel.

VGCS rất cần những thông tin có tính tuyên truyền cho Đảng của chúng, nên chính vì thế, chúng liền dụ khị Châu và ngay lập tức, kẻ háo danh đã sập bẫy. Châu về nước, được tổ chức hội nghị long trọng để chúc tụng, được trao tặng những món quà giá trị lớn, và được Nguyễn Tấn Dũng mời vào Phủ Thủ Tướng để gặp. Điều đáng nói là một kẻ học cao đến như Châu mà cũng không biết xấu hổ, trái lại còn cảm thấy tự hào khi được những ân sủng của bọn Việt Gian. Ngay sau khi Châu nhận 1 loạt những ưu ái của VGCS, thì lập tức bị những trí thức trong nước tỏ thái độ thất vọng, vì tư cách của hắn cũng chỉ là 1 con buôn khoa học, khi hắn tự nhận rằng công lao của hắn xứng đáng được thưởng căn hộ chí ít là 5 tỷ VND.

Hình ảnh nhăn nhó (?) của Võ Văn Kiệt sau khi chết.

Chính vì khá thành công sau khi chiêu dụ được Ngô Bảo Châu, VGCS bắt đầu nhận thấy 1 chiến lược hiệu quả đối với giai tầng trí thức. Gần đây, chúng đưa lên Vietnamnet, 1 bài viết ca ngợi Võ Văn Kiệt với tiêu đề “Nghĩ Về Thái Độ Trân Trọng Trí Thức Của Chú Sáu Dân”. Tại sao lại là Võ Văn Kiệt mà không phải là người khác? Chắc hẳn quý độc giả còn nhớ về hiện tượng Võ Văn Kiệt chút nữa thì được phong làm “Nhà Dân Chủ” khi nụ 8406 đang sắp nở hoa, tức là hắn là 1 Goobachev theo tưởng tượng của Nguyễn Văn Lý nếu không chết. Võ Văn Kiệt cũng là kẻ luôn đứng mũi chịu sào để lên tiếng Hòa Hợp Hòa Giải, đồng thời hắn cũng là người khởi xướng phong trào chống tham nhũng, mà vì đó hắn đã đưa thành công thằng chăn trâu Nguyễn Tấn Dũng lên chức Thủ Tướng. Khi hắn chết, lập tức Việt Tân tung tin VGCS tổ chức ám sát hắn để bịt miệng với lập luận rằng Kiệt sẽ đánh gục bọn “thân Tàu” để đi với Mỹ. Tuy nhiên, nếu quả là Kiệt có mưu đồ đó thì Kiệt phải có lực lượng, vậy lực lượng đó đâu mà để hắn bị giết dễ như người ta giết 1 con heo vậy? vả lại nếu Kiệt chết thì lực lượng của Kiệt đã đám sao? Hơn nữa, đàn em của Kiệt chính là Nguyễn Tấn Dũng, Phan Văn Khải đó, bọn đó là thân Mỹ hay thân Tàu? Thời Phan Văn Khải làm Thủ Tướng thì dâng biển, thời Nguyễn Tấn Dũng thì Phân Chia Biên Giới, Một Vành Đai, Hai Hành Lang, Bauxite, Rừng Đầu Nguồn. Phải chăng cúng đất cho Tàu là “thân Mỹ”?
Phó thủ tướng việt gian Phạm Gia Khiêm
Ban Chấp hành Trung ương Đảng việt gian Nông Đức Mạnh
Thằng con hoang Nông Đức Mạnh Hoạn lợn Đỗ Mười


Lê Khả Phiêu

việt gian Nguyễn Tấn Dũng


GS Phan Lương Cầm trùm buôn lậu, tham nhũng đường dây 500 kV,

Khi Kiệt làm Thủ Tướng, con vợ hai của hắn là Phan Lương Cầm, dạy tại bộ môn điện hóa thuộc Trường Đại Học Bách Khoa-Hà Nội, từng là trùm buôn lậu, cũng là trùm tham nhũng đường dây 500 kV, thì hắn đâu có lên tiếng chống tham nhũng. Cũng lại chính thị Cầm, kẻ từng rất nhiều lần vi phạm luật giao thông, vì thế mà Võ Văn Kiệt đã lệnh sửa luật giao thông, không cho bọn chó vàng được dừng xe nếu không có lý do. Khi hắn đương chức, Võ Văn Kiệt cũng là ủy viên Bộ Chính Trị cùng với những thằng Đại Việt Gian ác ôn khác thông qua Hiến Pháp 1992 trong đó có bổ sung điều 4 nhằm khẳng định độc quyền cai trị của bọn cướp, đâu có thấy hắn phản đối hay đề cập đến chuyện Dân Chủ Hóa hay Dân Chủ Héo gì đâu???

Thực sự, đây là 1 màn đánh bóng có chủ ý. Trước hết, nếu để ý chúng ta sẽ thấy, VGCS tiếp tục bật đèn xanh cho các nghị gật hăng hái chất vấn chính phủ về chuyện Bauxite, phủ quyết tuyến đường cao tốc. Cho dù những hiện tượng chất vấn như vậy vẫn đang xảy ra, vẫn tiếp diễn, nhưng Bauxite không hề dừng lại, và những điều tra mới đây cho hay thực chất Bauxite đã được khai thác trước khi người ta biết đến khá lâu, chỉ đến khi con số công nhân Tàu Cộng lên đến con số 10 vạn. Về đường sắt cao tốc thì mặc dù có phủ quyết nhưng mọi chuyện vẫn súc tiến đều đặn. Rừng Đầu Nguồn thì mặc dù đã có chỉ thị ngưng cấp phép, song InnovGreen, Tàu Cộng núp dưới danh nghĩa công ty Đài Loan trá hình vẫn tiến hành “trồng rừng” đều đặn ở các khu mới. Tóm lại, nghị gật và VGCS chỉ là đang diễn kịch cho người dân trong và ngoài nước xem chơi.

Ảnh hưởng của màn kịch này là gì? Không có khăn lắm cũng thấy đó là 1 trình diễn dân chủ trong điều hành đất nước của VGCS, tạo cảm giác trong dư luận rằng Đại Hội 11 sẽ là 1 bước ngoặt mới, và để biến nó thành hiện thực thì cần phải có sự đóng góp ý kiến của toàn dân, đặc biệt là giới trí thức, nếu là các trí thức Việt Kiều càng tốt. Đất nước ta sắp có dân chủ tới nơi rồi, cách mạng trắng, cam, nhung, hồng, gì đó sắp thành công tới nơi rồi. Nhào dzô đi. Và cũng đồng thời để khẳng định những tin đồn đó là khả tín, thì cần phải đánh bóng lại những tên tuổi được gán cho nhãn hiệu “cởi mở” và quan tâm, trân trọng đặc biệt với giới trí thức. Hãy về xây dựng quê hương đi hỡi các “Trí Thưc Việt Kiều”!!!

Để cho giới trí thức Hải Ngoại tin điều này là có khả năng xảy ra, Bùi Tín lập tức cũng ra chiêu “túi khôn” nhằm thuyết phục Hải Ngoại tin rằng VGCS đang lung túng vì không biết đi theo hướng nào, trong khi Trung Cộng đang sắp “Dân Chủ Hóa”. Xin quý độc giả hãy nhìn trở lại 22 năm trước đây, Triệu Tử Dương ở vị trí nào, hắn đã bị ra sao khi tỏ ra có ý đồ riêng? Ngày nay cũng không ngoại lệ, Ôn Gia Bảo và đám ăn theo chỉ phát ngôn bừa bãi chứ chưa hề thấy chúng làm gì để khẳng định điều chúng nói. Hơn nữa mộng bành trướng sẽ tắt ngấm nếu Tàu có Dân Chủ Thực Sự, chúng đang ráo riết chuẩn bị tư thế làm lãnh đạo thế giới thay thế người Mỹ chứ phải vì cuộc sống hạnh phúc cho dân Tàu? Vì có những lung túng như vậy, nên với thành tâm, “Đảng” sẽ cần sự đóng góp của giới trí thức hơn bao giờ hết và VGCS đã có những tấm gương như vậy. Ngô Bảo Châu, và Võ Văn Kiệt.

VGCS tính toán và dàn dựng chiến lược thôn tính Hải Ngoại của chúng rất công phu, tất nhiên không phải bằng những bộ óc lớp 3 trường làng của chúng. Chúng nghĩ rằng, chúng sẽ thành công? Chúng đã nhầm, đa số những người Việt trong nước hiện nay họ đã tinh khôn hơn cha anh của họ rất nhiều, những thế hệ con cháu của người Việt ở Hải Ngoại lại càng có nhiều điều kiện để phát triển trí tuệ ấy. Họ không nhầm, và họ sẽ không bị mắc lừa hoặc sập bẫy vì bả vinh hoa phú quý. Tàu sẽ tiến chiếm Việt Nam trong nay mai, lũ Việt Gian sẽ bị tụi Tàu vứt ra đường như những chó ghẻ, trong khi đó người dân Việt sẽ vùng lên để đánh dập đầu bọn đại Hán bành trướng. Ngày giặc tan, cũng chính là ngày lũ Việt Gian phải đền tội trước dân tộc. Hồn thiêng sông núi của đất nước có ngàn năm lịch sử nhất định sẽ không để lũ giặc thoát khỏi sự trừng trị đích đáng.


Thuở Vạn Kiếp tiên trao khét oanh liệt,

Ngày Lục Niên đã hiện thét quang vinh,

Rửa lấy máu gột màu bằng xương thịt,

Chém muông Hồ, thú Hán nức uy linh.

(trích từ Cụ Lý Đông A)

Trọng Tín (Kyoto)

Không cho phép mình quên

Nguyễn Khánh Vũ
 Tôi tên Nguyễn Khánh Vũ, kỹ sư điện toán cho một công ty bên Arizona. 
Đã tham gia với bài "Nước Mỹ và tôi" vào năm đầu tiên, và mới nhất là bài "Nước Mỹ và vợ tôi".
Nhiều người cho rằng chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm rồi, vả lại Việt cộng cũng thay đổi rồi, sao lại chống? 
Với tôi, những bài học, những kinh nghiệm thương đau mà thế hệ Cha Anh đã có với Việt cộng nhắc tôi phải cảnh giác luôn luôn.
Bài học thứ 1:
Việt cộng giết người Quốc gia ngay trong thời kỳ phôi thai kháng Pháp, đánh Nhật, vì Việt cộng muốn cướp quyền lãnh đạo đất nước, để có thể toàn quyền làm tay sai cho cộng sản quốc tế trước kia, và nay cho quan thầy Trung cộng. 
Bài học thứ 2:
Trong những kỳ cải cách ruộng đất, Việt cộng đã giết biết bao người dân vô tội, giết ngay cả những người mà có lẽ chẳng bao lâu trước đó đã hào phóng bỏ ra vàng, tiền của đóng góp trong các cuộc quyên góp cho Việt cộng. 
Bài học thứ 3:
Ký kết ngưng bắn với Việt cộng chưa ráo mực thì Hồ Chí Minh xua ngay quân giết hàng ngàn đồng bào miền Nam vô tội trong Tết Mậu Thân. 
Bài học thứ 4:
Việt cộng xé ngay bản hòa đàm Paris mà chúng vừa ký.
Bài học thứ 5:
Trường học Cai Lậy, nơi bao trẻ thơ đang ê a bên trang sách, sao lại là mục tiêu pháo kích của Việt cộng? Sao Việt cộng lại nhẫn tâm bắn vào hàng ngàn đồng bào vô tội đang trốn chạy "giải phóng quân" trên đại lộ kinh hoàng?
Bài học thứ 6:
"Nhà nước thông báo để nhân dân đừng tin vào các tin đồn thất thiệt. Nhà nước sẽ không đổi tiền".
Và việc đổi tiền, thực chất là một cuộc ăn cướp tài sản của người dân miền Nam, được tiến hành chỉ một ngày sau đó. Đây là một nhóm thổ phỉ cai trị, chứ không phải là một nhà nước pháp trị. 
500 đồng tiền Việt Nam cộng hòa đổi lấy 1 đồng tiền Hồ. Việt cộng có cái gì để mà đổi? 
Bài học số 7:
- "Ngày mai em sẽ chở các con đến đây thăm anh", Mẹ tôi bịn rịn chia tay Ba tôi sau khi chở Ba tôi đến địa điểm tập trung "cải tạo".
 Ba tôi căn dặn.
- "Em về ráng lo cho Thầy Mẹ và các con. Đêm nay chắc chắn anh sẽ bị đem đi nơi khác. Và em cũng đừng mong anh sẽ về sau 10 ngày", 
Mẹ tôi trả lời. 
 - "Nhưng… cách mạng thông báo tập trung 10 ngày mà". 
Ôi thương thay cho người dân hiền lành, thật thà đất nước tôi. 
Và chắc đâu đó ở Hà nội, đã có một nhóm người ngồi cười khoái trá.
Trên đây là một ít trong số những bài học "cơ bản" mà tôi luôn tự nhắc mình và"không bao giờ cho phép mình quên." 
 Có nhiều người cho rằng Việt cộng đã thay đổi rồi. Với tôi, Việt cộng chỉ là một loài tắc kè dỏm và hạ cấp. Nó thay đổi màu để tồn tại, để tiếp tục lừa bịp, che đậy cái bản chất bất biến của chúng là tàn ác và đê hèn. Với những người cùng một dòng máu Việt thì chúng chẳng chừa một hành vi bẩn thỉu nào, nhưng với kẻ thù phương Bắc, kẻ thù mà ngàn năm trước cha ông ta đã chỉ mặt đặt tên, thì chúng lại quì gối. Khi đọc bản tin Giang Trạch Dân vào tắm ở Đà nẵng, rồi vào Saigon gặp mặt hoa kiều Chợ Lớn, sau đó mới bay ra Hà nội để gặp bọn đàn em ở Ba Đình, lòng tôi sôi sục căm hờn, tủi nhục. Với cái thằng Tàu phù này, Việt Nam xem chừng chỉ là cái ao làng của nó. Khi đọc bản tin thấy đám du khách Trung cộng phất cờ, đón đuốc thế vận trên đường phố Saigon trong khi những người dân Việt bị cô lập, bị đẩy ra xa, tôi biết rằng tôi vẫn còn sáng suốt. Tôi vẫn thấy rõ cái tồi tệ, xấu xí của Việt cộng dù đang được che đậy dưới một cái áo màu mè bên ngoài của một con tắc kè. Việt cộng đã thay đổi?
Tôi may mắn có một người cha sáng suốt với những phân tích sắc bén, thuyết phục. Ông luôn là người đầu tiên tôi tìm đến để tham khảo và hỏi ý kiến khi nghe hoặc đọc thấy những biến động nào trong xã hội. Là một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ở tuổi ngoài 70, ông vẫn canh cánh trong lòng chuyện vận mạng đất nước. "Muốn chống cộng mình phải hoặc là có tiền hoặc là có quyền", Ba tôi nói. Và trong tình thế không có cả hai, ông vẫn chống cộng theo cách riêng. Ông hun đúc tinh thần yêu nước cho con cháu trong gia đình qua các câu chuyện kể, qua những nhận định tình hình, nhắc nhở con cháu tỉnh táo trước những mưu chước của Việt cộng. Ông nhắc con cháu dành chút thời gian thắp một nén nhang, đặt một ít hoa, nơi đài chiến sĩ Việt-Mỹ nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong. Ông cố gắng đến với các cuộc biểu tình nghiêm túc trong cộng đồng. "Mình đến dù không làm được gì nhưng mình phải đến để thể hiện chính kiến của mình, đồng thời động viên anh em", Ông thường nói như vậy. Ông đến với các buổi ra mắt sách có liên quan đến lịch sử, đến quân đội và luôn ủng hộ mua sách từ những đồng tiền ít ỏi Ông nhận được hàng tháng. Tôi được nghe rất nhiều lần từ những người bạn của Ông, từ sơ giao đến thân tình, "Mỗi lần gặp anh, tôi hiểu ra nhiều vấn đề quá". 
Tôi luôn cố gắng theo Ba tôi tham gia các cuộc biểu tình nghiêm túc trong cộng đồng. Tôi phụ giúp giảng dạy Việt ngữ cho các em nhỏ với hy vọng góp một bàn tay phá vỡ cái nghị quyết 36 mà Việt cộng đã và đang cố gắng thực hiện tại hải ngoại qua sách báo, qua các chương trình ca nhạc của chúng. Tôi tranh thủ giờ ăn trưa trong công ty, để viết bài và tham gia tranh luận trên các diễn đàn với cố gắng "giành dân, lấn đất" với Việt cộng trên mạng điện toán. 
Tôi luôn mua băng gốc các chương trình ca nhạc, các tài liệu lịch sử để ủng hộ các trung tâm, các cơ sở có đường hướng chống Cộng rõ ràng.
Tôi cố gắng giải thích cho các con tôi khi chúng thắc mắc về lá cờ máu chúng thấy trong sách báo.
Bạn bè tôi, có người cho tôi chống cộng cực đoan. Là người Việt nên tôi vẫn nhớ Ông Bà ngày xưa có dạy "một câu nhịn, chín câu lành". 
Tôi cũng cho mình là một người Công giáo kiên định và vâng phục.
Chúa tôi có dạy rằng "Nếu có kẻ tát con má bên phải, con hãy đưa má bên trái cho kẻ đó tát".
 Kính thưa Ông Bà,
Việt cộng ngày xưa đày Ba con nơi rừng sâu, chỉ thả về khi Ba con khập khễng trên đôi nạng gỗ với một bệnh án sống thêm được vài tháng là hết.
Mấy chị em con bị xếp vào hàng cuối cùng trong xã hội vì "trúng" đủ mọi "tiêu chuẩn" của Việt cộng, dân Bắc di cư-đạo Công giáo-con Ngụy quân Ngụy quyền.
Ngày xưa Việt cộng gọi chúng con là đĩ điếm bám chân đế quốc thì nay là "khúc ruột ngàn dặm", một khúc ruột mà hàng năm có thể gửi về trong nước gần 10 tỉ tiền đế quốc. Bao nhiêu đồng bào nghèo lê lết sống bên Cambodia hay còn kẹt lại ở Philippines, bao nhiêu công nhân làm tôi mọi khắp nơi, bao nhiêu cô gái bán thân khắp vùng Đông Nam Á, thì sao không là "khúc ruột"?
Trước, Việt cộng:
* giết dân miền Bắc trong "cải cách ruộng đất", 
* chôn sống dân miền Trung trong Mậu Thân, đày đọa,
* thủ tiêu quân cán chính miền Nam sau ngày "giải phóng"
Nay Việt cộng:
* lại tiếp tục cướp đất của bao người dân thấp cổ, bé miệng, 
* tiếp tục tàn phá quê hương, 
 * phá bỏ đạo đức làm người.
Người dân đã chẳng những "một nhịn", mà trăm ngàn "nhịn", mà "lành" vẫn không thấy. 
Ông Bà kính, làm sao có "lành" với quỷ?
Lạy Chúa, Việt cộng đánh đồng bào con thê thảm trong "cải cách ruộng đất". Việt cộng chôn sống đồng bào con trong Tết Mậu Thân. Việt cộng đánh gia đình con và biết bao gia đình miền Nam tan nát sau "ngày giải phóng". Việt cộng đẩy đồng bào con ra biển Đông và hàng ngàn người đã bỏ mình, đã ô nhục, nhơ nhớp dưới tay hải tặc. Nay Việt cộng tiếp tục đánh phá các cộng đồng hải ngoại, nơi chúng con đang xây dựng lại cuộc sống mới cho thế hệ mai sau. 
Lạy Chúa, chẳng những cả hai má chúng con đã để cho Việt cộng tát, mà toàn thân, lục phủ ngũ tạng cũng tang thương. Thì nay xin Chúa cho con theo câu "có lúc con phải hiền như con trừu, có khi con phải khôn ngoan như con rắn". Tôi có cực đoan không khi tôi chống Cộng hay Việt cộng đã thay đổi chăng? 
Tôi sẽ còn chống cộng ngay cả khi Việt cộng không còn trên quê hương tôi. 
Ngày quê hương thanh bình, tôi sẽ về lại vùng quê Mỹ Tho hiền hòa, mở một ngôi trường dạy học cho các em nhỏ. Và lồng trong những bài học Việt văn, toán học, tôi chắc chắn sẽ kể cho các em nghe những tội ác của Việt cộng, nhắc cho các em những kinh nghiệm thương đau của cha ông, với một hy vọng các em sẽ không bao giờ để cái chủ nghĩa quái thai này xuất hiện một lần nữa trên đất nước thân yêu dưới bất kỳ hình thức nào. 
Tôi viết bài này trong niềm tưởng nhớ người Chú, người Cậu, những sĩ quan anh dũng của quân lực Việt Nam cộng hòa hy sinh trong cuộc chiến, những đứa em và bà con xa gần chết trên biển Đông, vì lý tưởng tự do. 
NGUYỄN KHÁNH VŨ