ĐCSVN Đã Bán Rẻ Tổ Quốc Cho Kẻ Thù Truyền Kiếp Của Dân tộc


http://www.youtube.com/watch?v=mRMzRNwWj4Y
Đảng Cộng Sản VN Đã Bán Rẻ Tổ Quốc Cho Kẻ Thù Truyền Kiếp Của Dân tộc
Ls Trương Phú Thứ

Từ ngàn xưa, nước Việt Nam có chiều dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Cha ông chúng ta đã bao đời đổ máu và mồ hôi, nước mắt tạo dựng nên cơ đồ lừng lẫy dưới Trời Đông Á. Từng tấc đất trên núi cao, mỗi con nước hòa trong đai dương đã thấm nhuần hào kiệt uy dũng của tiền nhân; và con cháu hàng hàng, lớp lớp từ đời nọ sang đời kia hiên ngang xây dựng đất nước ngày thêm tươi tốt, chiến đấu đánh đuổi ngoại xâm, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ. Cha ông chúng ta đã khổ công khai sơn phá thạch, bồi sông lấp biển, gầy dựng cho con cháu mảnh vườn sào ruộng, là nơi chôn nhau cắt rốn của đám hậu duệ, là chỗ gửi gấm thân xác tiền nhân lúc mãn phần. Kẻ trước người sau, một lòng sắt son tô điểm sơn hà trong niềm kiêu hãnh của dòng giống Lạc Hồng. Quê Cha đất Mẹ là vành nôi ấp ủ tình tự quê hương, là bầu sữa ngọt ngào nuôi dưỡng đàn con Việt tộc. Đàn con Mẹ Việt Nam bám lấy sào ruộng, ôm lấy mảnh vườn là hương hỏa của ông cha khó công gầy dựng như mầm sống của từng thế hệ.

Đất nước ta đã bao lần đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc. Lời thề Diên Hồng còn âm vang trên núi cao. Tiếng hò Sát Đát vẫn xé gió tung bay ra bốn bể.

Nhưng đau đớn tủi nhục, xót xa, ngậm ngùi ! Đảng cộng sản Việt Nam đã ký hai hiệp định về biên giới với Trung cộng vào ngày 30-12-1999 và 25-12-2000. Hai hiệp định này đã cống hiến một phần đất đai ở tuyến cực Bắc tiếp giáp với Trung cộng, và một phần lãnh hải vịnh bắc Việt cho Trung cộng. Biên giới Trung-Việt đã lùi sâu vào lãnh thổ Việt Nam nhiều chỗ đến 12 cây số. Ải Nam Quan không còn nữa. Thác Bản Giốc cũng không còn nữa. Vịnh Bắc Việt đã mất thêm đến 10%. Quê hương Việt Nam đã mất một phần đất đai nơi đó là tổ ấm của nhiều dòng họ từ bao nhiêu đời. Tổ Quốc Việt Nam đã mất đi Hoàng Sa - Trường Sa, là mất đi một phần biển có nhiều dầu khí.

Ngày 27-12-2001; lễ cắm cột mốc thi hành những điều khoản của hiệp định được tổ chức và chiếu trên hệ thống truyền hình toàn quốc. Con dân nước Việt ở khắp mọi miền đất nước thắp nhang hướng về địa đầu tổ quốc khấn nguyện anh linh, tiên tổ, sụt sùi rơi lệ.

Lịch sử nước ta ghi chép, Việt tộc đã nhiều lần đứng lên đánh đuổi quân xâm lược hung hãn phương Bắc. Ngay cả lúc cha ông chúng ta ở trong thế yếu kém nhưng chưa hề bao giờ phải cắt đất nhượng biển cho quân ngoại xâm. Vậy cớ sao đảng cộng sản Việt Nam lại cúi đầu tuân phục mệnh lệnh của quan thầy cộng sản Tầu cắt đất của tổ tiên, xé biển của Tổ Quốc cống hiến cho kẻ thù phương Bắc ?!

Có nhiều giả thuyết được nói đến để tìm hiểu hành động phản phúc của đảng cộng sản Việt Nam. Trước hết, là món nợ khổng lồ đã vay mượn của Trung cộng để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Hòa. Sau đó là sự đền ơn đáp nghĩa đối với một đàn anh cộng sản khổng lồ ngay sát nách, có đủ khả năng để bảo đảm sự an toàn của tập đoàn thống trị Hà Nội. Vì muốn nắm giữ đặc quyền, đặc lợi và đủ sức mạnh để khống chế, áp bức những người cùng huyết thống, đảng cộng sản Việt Nam đã táng tận lương tâm cắt đất, nhượng biển cung phụng những đòi hỏi quái ác của bọn cộng sản Tầu.

Hồn thiêng sông núi Việt, anh linh tiên tổ ngậm ngùi đau xót nhìn những đứa phản tặc vô ơn bạc nghĩa, mang cả gia tài của ông cha đem cống hiến cho ngoại nhân để nắm giữ quyền hành và từ đó, áp đặt một thứ chủ nghĩa độc ác phi nhân xóa bỏ tình tự đạo lý dân tộc.

Đảng cộng sản Việt Nam đã hiện nguyên hình trọn vẹn chỉ là một công cụ vô hồn của một thé lực còn rơi rớt lại của khối cộng sản thế giới.

Phường nghịch tặc của Tổ Quốc đã chỉ vì quyền lợi của bè đảng và cá nhân đã không từ nan bất cứ một hành động phản trắc nào, hầu chỉ cần nắm giữ được quyền hành và tài sản tiền bạc của Quốc Gia.

Hỡi các bạn trẻ Việt Nam! Giang sơn gấm vóc mà tổ tiên chúng ta đã khổ công khai phá và xây dựng đã bị đảng cộng sản Việt Nam cắt xén dâng hiến cho Trung cộng. Còn nỗi nhục nhằn cay đắng, rách gan, đứt ruột nào hơn; các bạn đã khóc ra máu mắt nhìn bọn thảo khấu bán nước toa rập với lũ giặc phương Bắc đóng những cái mốc ngay trên phần đất hương hỏa của bao dòng họ. Các bạn đã uất hận nghẹn ngào nhìn mồ mã tiền nhân đang bị những bước chân xâm lăng của kẻ thù truyền kiếp giầy xéo. Đảng cộng sản Việt Nam vì nhu cầu sống còn đã nhẫn tâm bán rẻ tổ quốc cho bọn giặc thù phương Bắc.

Các bạn là những sinh viên đang miệt mài đèn sách nơi trường lớp. Các bạn là những viên chức nhà nước đang bị trù dập vì đoàn đảng và bọn tham ô nhũng lạm. Các bạn là những công nhân đang bị hành hạ tức tưởi bởi bọn thực dân mới Đài Loan, Hàn quốc… Các bạn là những người lính đang ngày đêm gian khổ, nhưng bị đảng cộng sản Việt Nam không cho được bảo vệ đất nước. Các bạn là những người lao động đang gục đầu nhục nhằn vì miếng cơm manh áo. Các bạn là những người buôn thúng bán bưng đang cay đắng vì đói nghèo đói bệnh tật.

Các bạn, tất cả hãy ngạo nghễ đứng lên, cùng một lời thề ước, tay trong tay bứt phá xích xiềng nô lệ tư tưởng, tù đầy, cơm áo và thoát ra khỏi bàn tay ác độc của kẻ thù tuyền kiếp phương Bắc.

Các bạn trong quân ngũ hãy quay súng lại làm tròn nhiệm vụ của Tổ Quốc và đồng bào trao phó; các bạn hãy nhận lãnh trách nhiệm với tiền nhân, với đồng bào và lịch sử; cùng nhau vùng lên đạp đổ một chủ thuyết tàn ác do đảng cộng sản Việt Nam áp đặt để độc quyền thống trị.

Các bạn cứ nhìn xem chung quang mình, bọn cán bộ chức quyền giầu có đến mức nào, trong khi bản thân các bạn đang lây lất rau cháo qua ngày. Xương máu của các bạn đang đổ ra con cháu bọn cán bộ đốt tiền bên trời Âu-Mỹ. Mồ hôi nước mắt của các bạn đang đổ ra cho đám chức quyền cao cấp nạp những đồng tiền thuế của dân vào cái túi không đáy của bọn nhà thổ. Tài sản quốc gia đã bị các quan chức lãnh đạo đản cộng sản trấn lột và hiện cất giữ ở các ngân hàng ngoại quốc.

Lớp người trẻ ở Liên Sô cũ, các quốc gia Đông Âu và các nước Á Phi đã đồng loạt đứng lên. Họ, với sức mạnh hào và khí của tuổi trẻ, họ đã làm nên đai cuộc. Các bạn hậu duệ Quang Trung, con cháu Trưng-Triệu lẽ nào nhắm mắt xuôi tay nhìn Tổ Quốc bị đảng cộng sản Việt Nam đem bán rẻ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, nhìn đồng bào thân yêu triền miên trong nghèo đói, bệnh tật và dốt nát. Đức Hưng Đạo Vương ba lần đại phá quân Nguyên đã thống thiết trong Hịch Tướng Sĩ:

"Chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giầy xéo, mà phần mộ cha ông của các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào, chẳng những thân ta kiếp lưu đày chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là những người bại trận".

Các bạn hãy đứng lên !

Hùng tâm dũng khí của những người trẻ Việt Nam sẽ cứu nước và dựng lại đất nước. Nước Việt Nam phải là một dải đất gấm hoa của tự do dân chủ. Người Việt Nam hào hùng phải được quyền sống trong những điều kiện bình thường của con người. Các bạn là vốn liếng quý giá của nòi giống Việt. Các bạn là tài sản trân quý của dân tộc. Các bạn là nguồn cậy trông, là niềm hy vọng của tiền nhân và đồng bào ruột thịt. Các bạn hãy đứng lên tiêu trừ đảng Cộng sản Việt Nam, xóa sổ bọn tôi đòi của kẻ thù phương Bắc. Các bạn sẽ không đơn độc. Đồng bào ở trong cũng như ngoài nước luôn sát cánh bên các bạn bằng nhiều cách… Các quốc gia và những người yêu chuộng tự do dân chủ, tôn trọng hòa bình công lý trên toàn thế giới sẽ cùng đứng bên với các bạn.

Các bạn hãy ngạo nghễ đứng lên !

Ls Trương Phú Thứ

Kết quả Hội Nghi TƯ đảng VGCS lần thứ VI

 

Bí Ẩn Cuộc Đời việt gian Lê Duẩn

Cuộc Đời tên Việt Gian Lê Duẩn


Người CS nào cũng có cuộc đời ly kỳ, do họ cố tình che dấu, ngụy trang để hoạt động. Lê Duẩn (1907-1986) từng là Bí thư của đảng CSVN, nhưng là 1 trong những nhân vật lãnh đạo có trình độ học thức kém nhất, chỉ ở bậc Tiểu học. Do đó, ông ta tàn ác đối với đồng bào còn hơn kẻ thù ngoại nhân. Ông là người có tính tình cục mịch như nông dân, tính cọc cằn.

Sau năm 1975, 1 cán bộ cao cấp hỏi ông về chính sách đối đãi với những sĩ quan miền Nam thì Duẩn trả lời bằng cách ra dấu lấy tay quẹt ngang cổ (có nghĩa là giết). Chủ trương tàn bạo, có tính thiếu nhân tính của người lãnh đạo CS, làm cho hàng trăm ngàn sĩ quan cao cấp của QLVNCH phải chết trong các trại cải tạo, phơi thây trong rừng thiêng nước độc, gieo tang tóc đau thương cho gia đình họ. Cuộc đời của Lê Duẩn có nhiều bí ẩn ít ai biết rõ. Tài liệu này được viết dựa. theo những lời kể của người trong cuộc cũng như dựa theo 1 vài tài liệu khác, nhất là do sự giúp đỡ của Xuân Vũ và Dương Đình Lôi, họ đã cho biết những chi tiết sống thực mà chính họ đã chứng kiến.

Lê Duẩn, còn được biết là Lê Văn Duẩn, Lê Văn Nhuận hay anh Ba, người thôn Bích La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, sinh ngày 7/4/1907 trong 1 gia đình sống bằng nghề đóng quan tài. Chỉ được theo học hết cấp Tiểu học ở Triệu Phong. Năm 18 tuổi, Lê Duẩn xin vào làm cho Sở Hỏa xa Quảng Trị. Theo nhiều người biết thì ban đầu Duẩn làm người "bẻ ghi", cầm cờ hiệu cho xe lửa mỗi khi vào sân ga. Năm 21 tuổi, Duẩn tham gia hoạt động chính trị bí mật chống Pháp, gia nhập "Việt Nam Thanh Niên Đồng Chí Hội", là tiền thân của đảng CSVN.

1 năm sau, khi đảng CSVN được thành lập ở Hong Kong, 3/2/1930, Duẩn được cử làm Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau cuộc khởi nghĩa thất bại "Sô Viết Nghệ Tỉnh", Duẩn bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò rồi đày lên nhà tù Sơn La (1931-1936).

Năm 1936, Mặt Trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp, nới lỏng chế dộ cai trị thuộc địa. Tại Đông Dương, Pháp phóng thích 1 số chính trị phạm. Lê Duẩn được tha trong dịp này. Về Trung Kỳ, Duẩn lại tiếp tục hoạt động. 1 năm sau, Duẩn được cử làm Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ (1937-1939). Sở dĩ Duẩn được tiếp tục tiến cử vào chức vụ cao hơn là nhờ xuất thân từ giai cấp nghèo khổ, ít học, trung kiên. Năm 1939, Duẩn được vào Ban chấp hành Trung ương đảng (Ủy Viên Thường Vụ Lâm Thời Trung ương đảng, 1939-1940), và được phái vào Saigon hoạt động. Bấy giờ đảng viên CS ở miền Nam chỉ có 1 nhúm người. Lúc đó ở Nam Kỳ có Nguyễn Văn Cừ là Tổng bí thư, và Duẩn dưới quyền của Cừ.

Tháng 8/1939, Đảng CS Liên xô ký hiệp ước thân thiện với kẻ thù Đức Quốc Xã, và coi Pháp không còn là đồng minh nữa. Phản ứng lại, ở Đông Dương, Toàn quyền George de Catroux ra lịnh thanh trừng tất cả đảng viên CS. Ngày 17/1/1940, mật thám bắt được tại trận Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư đảng đương thời), Võ Đình Hiệu, Vũ Thiên Tân và Duẩn đang hội họp tại con hẻm số 19 đường Nguyễn Tấn Nghiệm, nay là Trần Đình Xu. 2 hôm sau, Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập (Uy viên Trung ương đảng) cũng bị tóm ở Phan Thiết. Tuy nhiên, trong dịp này, số người hoạt động chính trị bị bắt, không chỉ CS mà thôi mà còn gồm đủ mọi thành phần, đủ khuynh hướng chính trị và số lượng bị bắt ngày càng đông. Thống đốc Nam Kỳ Veber có lập trại giam mới ở Tà Lài, nằm sâu trong rừng gần Định Quán, khoảng cây số 123 để chứa thêm, sau khi các nhà tù khác đã "quá tải". Đây là chiến dịch "tổng ruồng, vét sạch" của thực dân, đề phòng cuộc khởi nghĩa của người dân bản xứ.

Lúc ấy, Nguyễn Thị Minh Khai (tức Nguyễn Thị Vịnh) cũng bị sa lưới mật thám Pháp (30/7/1940) tại Hóc Môn. Lúc này, Thường vụ Trung ương đảng đang đóng ở miền Nam với Phan Đăng Lưu, Tạ Uyên,...chưa bị bắt. 30/9/1940, họ đồng thanh quyết nghị khởi nghĩa chứ không chịu ngồi yên chờ chết. Kế hoạch nổi dậy nhiều tỉnh cùng 1 lúc gọi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa vào cuối năm 1940 (22/11/1940). Phan Đăng Lưu được cử ra Bắc xin chỉ thị, tuy nhiên cuộc họp lần thứ 7 của Trung ương đảng ở Bắc Ninh (có Hoàng văn Thụ, Trần Đăng Ninh, Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt...) đã không tán thành.


Theo lịch sử công khai của Đảng thì như thế. Tuy nhiên, có người trong cuộc, biết cái bí ẩn của Nam Kỳ Khởi Nghĩa (22/11/1940). Không phải bỗng nhiên nhóm Thường vụ Trung ương đảng lẫn trốn ở Hóc Môn, Bà Điểm mà Pháp biết được và bắt trọn ổ. Đó chính là miền Bắc "chỉ điểm cho Pháp", vì muốn "đảo chính" Trung ương đảng miền Nam để đem Trung ương đảng ra Bắc Kỳ cho người Bắc lãnh đạo. Họ mượn tay người Pháp để diệt nguội Nam Kỳ. Chính vì lẽ đó, Phan Đăng Lưu bị bắt. Lần lượt, các nhân vật lãnh đạo ở Nam Kỳ bị đưa ra tòa kêu án tử hình. Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt trước, cũng bị hành quyết chung (28/8/1941) với Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư năm 1938), Võ Văn Tần (người Đức Hòa, Tân An, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ), Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng).

Từ đó, ở Bắc, vào đầu tháng 11/1940, tại Hội nghị thứ 7 Ban chấp hành Trung ương đảng CS Đông Dương, Trường Chinh lên làm "Tổng Bí thư Lâm Thời" (thay cho Nguyễn Văn Cừ đã bị bắt cùng Lê Duẩn, Võ Đình Hiệu và Vũ Thiên Tân ngày 17/1/1940 tại Saigon), và đầu não CS dĩ nhiên nằm tại Bắc Kỳ. Các đảng viên Bắc và Trung Kỳ chia nhau nắm giữ các chức vụ then chốt trong kháng chiến cũng như sau khi hòa bình. Đó là chủ trương thầm kín của Hồ Chí Minh. Sau khi Nhật đầu hàng, ở Nam Kỳ, các phần tử trí thức Nam Bộ như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Tiểng, Ngô Tấn Nhơn, Phạm Ngọc Thạch,...mặc tình thao túng. Họ lập ra Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, có đầu óc địa phương, manh nha muốn tách ra khỏi sự khống chế của nhóm đảng viên Trung và Bắc Kỳ để thành lập 1 quốc gia CS Nam Kỳ. Không ngờ HCM biết thâm ý này nên sai Cao Hồng Lĩnh (tham gia Cách Mạng Thanh Niên Hội từ năm 1926), Hoàng Quốc Việt vào Nam bắt cóc Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai đem về giam lỏng ở Hà Nội.

Trong khi đó, vào tháng 9/1945, sau khi Nhật đầu hàng, thì Duẩn rời khỏi Côn Đảo (bị giam từ 1940-1945). Kế đó ít tháng, Duẩn được HCM gọi ra Hà Nội nhận chỉ thị. Khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp lan rộng ở Nam Kỳ, Hồ cử Lê Duẩn với chức vụ Bí Thư Xứ Bộ Nam Kỳ (1946) đi vào Nam. Đi theo Duẩn có Lê Đức Thọ. Hồ muốn Duẩn vào Nam để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Những người Trung và Bắc từ trước đến nay sống ở miền Nam như Trần Văn Trà, Võ Quang Anh, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Kim Cương...được Hồ cất nhắc lên cấp chỉ huy. 5 năm sau, 1951, khi Trung Ương Cục Miền Nam (bao gồm Nam Bộ và Cao Miên) được thành lập, Duẩn được cân nhắc lên làm Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam. Từ đó, Duẩn vào Nam ra Bắc như con thoi : nào là "rèn quân, chỉnh cán", nào kiểm thảo,...

Năm 1954, sau khi Hà Nội và Pháp ký Hiệp định Geneva, thì Duẩn được cài ở lại miền Nam, nằm vùng tại 1 căn nhà đường Phan Đình Phùng thuộc khu Bàn Cờ. Duẩn có cấp tốc ra Bắc để nhận chỉ thị lo việc tập kết, ém người và cán bộ ở lại miền Nam, để phát động cuộc chiến tranh mới. Duẩn sử dụng thông hành của 1 thương gia Tàu, do người vợ tên là LKD giới thiệu. Bà này là vợ hờ, theo kiểu già nhân ngải non vợ chồng. Duẩn lợi dụng bà này vì bà là vợ 1 thương gia giàu có, vừa làm cán bộ kinh tài cho CS, mà lại được cảnh "cơm no bò cỡi". Với thông hành hợp pháp, Duẩn đi đường bộ qua Phnom Penh, rồi đáp máy bay của Hàng không Pháp đi Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Tới đây, Duẩn đổi máy bay về Hà Nộị Lãnh chỉ thị xong, Duẩn lại đội lốt 1 sĩ quan liên lạc của Bắc Việt, tháp tùng máy bay của Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến, trở về Saigon. Sau đó, Duẩn lén về Phụng Hiệp, rồi bí mật trốn ra mật khu ở Cà Mau. Tại nhà thờ Huyện Sử, Duẩn chủ trì 1 phiên họp cán bộ cao cấp của Trung Ương Cục Miền Nam và ra lịnh : - Phân tán, chôn vũ khí, máy móc.

- Moi móc những súng đạn phế thải của các công binh xưởng phát ra cho các cán binh CS tập kết cầm theo "làm cảnh", để chứng tỏ cho mọi người và Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến rằng họ nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Geneva.

Chuyến tàu cuối cùng chậm chạp rời cửa sông Ông Đốc. 2 bên bờ, dân chúng tụ tập để tiễn chân thân nhân tập kết. Mọi người nhìn thấy rõ ràng Bí Thư Lê Duẩn đứng trên bong tàu Bilixki, đưa tay vẫy đồng bào... Khuya hôm đó, khi tàu Bilixki vừa ra khơi, Lê Duẩn xuống 1 chiếc ca nô trở lại bờ. Người tổ chức bí mật việc này là Võ Văn Kiệt, lúc đó làm Bí Thư Tỉnh Ủy Bạc Liêu. Duẩn được cài vào 1 gia đình ở Cà Mau để chờ đợi. Mấy tháng sau, Duẩn lại lén lút về Saigon ăn ở với người vợ hờ vừa kể trên. Đây là 1 người đàn bà lẳng lơ, vóc cao lớn, thân hình hấp dẫn, là đàn em của Mã Thị Chu (dược sĩ, có nhà thuốc Tây ở Cần Thơ), là 1 đại gian thương Chợ Lớn. Bà này có với Lê Duẩn 1 đứa con. Khi Lê Duẩn có lịnh ra Bắc (đầu năm 1957, sau khi Trường Chinh bị thất sủng, và chính phủ VNCH từ chối tổng tuyển cử), chính bà này lái xe đưa Duẩn qua Phnom Penh, để đáp phi cơ ra Hà Nội. Nhưng thực ra, từ đây Duẩn đi thẳng qua Hong Kong, Quảng Châu, rồi đổi máy bay khác về Hà Nội.

Nói thêm về tuyến đường này. Kể từ năm 1960, cán bộ cao cấp CS từ Nam VN muốn ra Bắc, họ sử dụng đường bay Phnom Penh - Quảng Châu do hãng Hàng không Air Azur của Pháp khai thác. Trước khi ra mắt Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời ở miền Nam, đại diện CS là Trần Bửu Kiếm cũng qua Phnom Penh rồi đáp máy bay đi Algeria, Cuba, báo tin trước. Khi VC vừa công bố làm lễ ra mắt Chính Phủ trên thì trên đài phát thanh của Algeria, Cuba, người ta nghe tiếng 2 chính phủ này "nhìn nhận" tân chính phủ ấy tức thì. Chuyến về, Trần Bửu Kiếm về thẳng Quảng Châu, qua Hà Nội để đánh lạc hướng tình báo Mỹ. Lần đó, Kiếm về Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) báo cáo diễn tiến Hoà đàm Paris. Khi cuộc chiến miền Nam trở nên ác liệt, Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết (Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình) từ Cục R được đưa ra Bắc lánh nạn, cũng sử dụng đường bay nói trên. Sau đó họ được đưa về Đồ Sơn "nghỉ dưỡng".

Trở lại năm 1948. Duẩn và Thọ tới chủ trì 1 phiên họp của đại biểu Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, họp tại mật khu ở Cà Mau. Duẩn gặp 1 cô gái xinh đẹp, có học thức, đang giữ chức Chủ tịch Ban chấp hành Phụ nữ tỉnh Cần Thơ, thì Duẩn mê ngay. Cần nhắc lại, lúc đó Duẩn đã 42 tuổi và có mấy đời vợ ở ngoài Bắc. Người vợ thứ nhứt được Duẩn cưới hồi 20 tuổi, ở quê nhà Quảng Trị, tên Cao Thị Khê. Vì bà vợ này mà Duẩn cất nhắc em ruột bà ta là Cao Xuân Diệm (bí danh Dương Thông), làm Cục trưởng Cục An ninh Nội chính, lúc đó mới cấp Đại tá, sau này lên Trung tướng. 1 người vợ khác của Lê Duẩn là Võ Thị Sảnh, con ông Võ Văn Kính, người Quảng Nam. Ông Kính là công nhân hỏa xa, đồng nghiệp với Duẩn ở Quang Trị. Bà Sảnh gia nhập đảng CS năm 1948, xâm nhập vào hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng để báo cáo cho Trần Văn Trà, lúc đó làm Tư lịnh Quân khu 4.

Khi vào Nam, Duẩn tuyên bố là minh chưa vợ vì còn "mãi lo làm cách mạng". Thương hại đồng chí Duẩn, tới tuổi này (42) mà chưa vợ, nhiều cán bộ muốn kiếm vợ cho Lê Duẩn để ông ta an tâm lo việc nước. Cô Đỗ Thị Thúy Nga là con 1 đại điền chủ quê ở Thác Lác, cháu gọi Đỗ Hữu Vị bằng chú ruột, và gọi Đỗ Hữu Phương, người giàu nhất Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20, bằng ông nội. Số là năm 1900, Toàn quyền Doumer có dịp vào Saigon, không biết Phương nịnh hót thế nào mà Doumer đã cấp cho Phương cả ngàn mẫu ruộng ở Thác Lác.

Đến năm 1945, số đất ấy chỉ còn vài trăm mẫu, do 1 người con của Phương quản lý. Như vậy cô Nga xuất thân từ giai cấp địa chủ, kẻ thù không đội trời chung với CS.

Nhắc lại, lúc đó Nguyễn Văn Trấn (tác giả "Viết cho Mẹ và Quốc hội") vừ đổi xuống miền Tây, mới hơn 30 tuổi. Trấn sanh vào ngày 21/3/1914 tại Chợ Đệm (làng Tân Kiên), huyện Bình Chánh, tỉnh Long An, đang giữ 2 chức vụ quan trọng : Bí Thư Khu Ủy, Chính Ủy Kiêm Tư Lịnh Khu 9, uy quyền tột bực. Trấn lại có học (Trường Tiểu học Phú Lâm, Trung học Petrus Ký, tốt nghiệp Trung học, làm báo), khá điển trai, là đối tượng của các cô gái đẹp ở Saigon mới vô khu kháng chiến. Trấn bắt tình với cô Đỗ Thị Thúy Nga, 1 mối tình qua đường vì Trấn đã có vợ con hẳn hoi. Mối tình vụng trộm này không kéo dài được vì bà vợ của Trấn ghen.

Để cứu vãn danh dự và để lấy lòng anh Ba Duẩn, Trấn liền giới thiệu cô Nga cho Duẩn. Thấy Nga, Duẩn rất thích. Nhưng, Duẩn vóc dáng cục mịch, ăn nói cộc lốc như "dùi đục chấm mắm nêm", lại già hơn, gấp đôi tuổi cô Nga, nên Nga từ chối thẳng thừng. Duẩn kêu vài cán bộ thân tín giữ những chức vụ quan trọng tới họp mật. Bà Lê Đoàn, Chủ tịch Ban chấp hành Hộ Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, được lịnh anh Ba tới "động viên" cô Nga ưng anh Ba. Anh Ba tuy lớn tuổi nhưng chưa vợ con vì mãi lo việc cách mạng. Rồi Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng), cũng được Duẩn giao nhiệm vụ vận động Thúy Nga. Chưa hết, giáo sư Đặng Minh Trứ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Cần Thơ, nhận lịnh Duẩn đến thẳng tư gia của cô Nga để "vận động" song thân của cô. Tất cả đều là công dã tràng, vì cô Nga từng là nữ sinh tường đầm, nói tiếng Pháp như gió, không chịu làm vợ 1 anh nhà quê thất học. 1 người từng ở trong hàng ngũ kháng chiến kể lại rằng, khi mọi cuộc "vận động" bế tắc, Duẩn liền dùng bạo lực. Duẩn cho lịnh mời cô Nga với tư cách đại biểu Cứu Quốc Cần Thơ, đến họp tại 1 ngôi nhà giữa rừng, bên bờ sông Trẹm, chỗ giáp ranh U Minh Thượng và U Minh Hạ. Đêm ấy trời mưa, chuyện gì xảy ra không rõ, sáng chỉ thấy cô Nga mặt mày sưng húp vì khóc suốt đêm qua. Ván đã đóng thuyền, cô Nga miễn cưỡng làm vợ bé của Lê Duẩn.

Từ đó, đảng ra lịnh cấm bất cứ ai bàn tán về việc "đồng chí Ba Duẩn cưới vợ". Năm 1955, cô Nga theo đoàn quân tập kết ra Bắc. Duẩn cho dấu cô Nga với 2 con trong 1 biệt thự trên đường Hùng Vương. Không hiểu do ai báo cáo, bà vợ cả Đỗ Thị Khê tìm tới đánh ghen. Cô Nga chỉ biết ôm mặt khóc. Duẩn dàn xếp dấu Nga ở Hải Phòng, cũng bị vợ lớn tìm tới chửi bới, khiến Nga đòi tự tử. Duẩn báo cáo việc lem nhem với Hồ. Hồ gợi ý đưa Nga qua Trung Quốc tỵ nạn vợ lớn, với danh nghĩa theo học chính trị tại Thiên Tân. Mỗi năm, Hồ cho Duẩn mượn chiếc máy bay riêng, ẩn số BH 195 (có nghĩa là Bác Hồ 19/5) qua Thiên Tân thăm vợ. Mỗi lần đi, Duẩn có đem theo đứa con gái lớn con bà vợ cả là Lê Thị Hồng, để cô này thăm tình nhân là 1 Thiếu úy đẹp trai, quê ở Cái Tàu, Bạc Liêu. Viên Thiếu úy này đang học trường quân sự Cáp Nhĩ Tân. Về sau, nghe đâu cô này học bên Liên Xô và lấy chồng người Liên Xô.

Xưa nay, lấy vợ lấy chồng là chuyện bình thường, nhưng có vợ rồi mà còn muốn có vợ bé...lại còn làm việc bất chính để chiếm đoạt. Hồ Chí Minh luôn luôn răn đe đảng viên phải có "đạo đức cách mạng, đời công, đời tư phải trong sáng..." Thật ra, lời giáo dục ấy chỉ là tuyên truyền, áp dụng cho đảng viên cắc ké. Các Ủy viên Trung ương đảng, Bộ chính trị, ai cũng lấy vợ hai, vợ ba, dựa vào quyền lực để ép duyên, hoặc dùng thủ đoạn để lấy gái tơ cỡ tuổi con mình, như Lê Đức Thọ, Võ Quang Anh (Tham mưu trưởng Khu 9), Trần Văn Trà, Hà Huy Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Hoan,...

Nguyễn Chí Vinh - Tên Việt gian số 1 thờ Tầu (hot)

Hồ Chí Minh không phải là danh nhân văn hóa

NGUYỄN KHOA ĐIỀM -Tên đao phủ giấu mặt chạy tội



NGUYỄN KHOA ĐIỀM -TÊN ĐAO PHỦ GIẤU MẶT - CHẠY TỘI Nguyễn Khoa Điềm (NKĐ),  một nhà thơ VC đã từng đảm trách một chức vụ rất lớn trong BCT Đảng CSVN, về cuối đời đã thú nhận là: “Bây giờ thì tôi chỉ còn chường mặt trong thơ!”.
Để biết Nguyễn Khoa Điềm là ai mà về cuối đời lại phải thú nhận như thế, xin mời độc giả đọc những giòng chữ sau đây được trích từ bài viết “Tên đồ tể tại Huế trong Tết Mậu Thân” của nhà văn Hồ Đinh như sau:

“… Cuộc binh biến ngày 1-11-1963 với kết quả đưa VNCH vào tình trạng vô chính phủ và gây nên những xáo trộn chính trị triền miên, suốt những năm 1964-1967. Nắm bắt được thời cơ, mà Hồ Chí Minh cho là đã chín mùi tại Miền Nam, nên đầu năm 1964, đảng ra lệnh tập trung các cán bộ y tế, giaó dục, văn hóa, thể dục thể thao, nhà văn, nhà báo, nông nghiệp, bưu điện, tiếp vận… khắp đất Bắc, để học tập, huấn luyện lên đường voà Nam, tiếp tay với bọn ăn cơm Quốc Gia thờ mà CS đang dấy lên phong trào cướp chính quyền ở Huế, Đà Nẳng, Sàigòn và những thành phố khác. Đợt đó có 300 người bị tập trung tại Trường Huấn luyện Đặc biệt ở Phú Thọ mang tên Đoàn Kết K.33.

Ngày 22-12-1964, lớp học bế mạc. Tất cả các học viên đều lên đường vào Nam. Để che mắt và lừa bịp công luận quốc tế, mọi người đều được trang bị như VC chính hiệu ở Miền Nam, với quần áo bằng vải kaki Nam Định, mũ tai bèo may bằng vải rộng vành, dép râu Bình Trị Thiên, cổ quàng khăn rằn và ai cũng thuộc bài “Giải Phóng miền Nam” của Huỳnh Minh Siêng tức Lưu Hữu Phước, lúc đó cũng đang có mặt ở Cục R ở Miền Nam.

Trong số cán bộ trên có nhiều người còn sống sót và được Đảng thuởng công rất hậu…Ngoài ra còn có các nhạc sĩ, nhà văn như Phan Huỳnh Điểu, Thuận Yến, Lê Xuân Anh, Tô Nhuận Vỹ, dược sĩ Nguyễn Kim Hùng, Tiến sĩ Võ Quảng, Nguyễn Thới Nhiệm. Nhưng chức vụ cao nhất, chỉ có Nguyễn Khoa Điềm, được vào Trung ương Đảng khoá IX năm 2001, đứng hàng thứ 5 trong Bộ Chính trị và hàng thứ 5 trong Ban bí thư Trung ương. 

Qua bài thơ “40 năm gặp lại” đăng trong tờ Xuân Ất Dậu 2004 của VC Bình Thuận, NKĐ đã viết: “Những người cùng đi trên chuyến tàu lửa nagỳ ấy qua khu Bốn, qua sông Xê Bay-Hiên, đường 9 nhìn thấy đêm Noel trong một chớp sáng. Vân chúng ta chia tay nhau ở Xê-Phôn. Tôi rẽ theo vĩ tuyến…” Lời thơ đã xác nhận, từ cuối năm 1964, khi vào Nam, NKĐ đã được chỉ định hoạt động tại các miền hỏa tuyến, thuộc VI Chiến thuật của VNCH  trong đó có Thừa Thiên-Huế, là quê hương của đương sự, trước khi tập kết ra Bắc.

Nhưng tại sao trong bài viết “Một cõi đi về” của Lê Dục Đức, đăng trong tờ Kiến Thức Ngày Nay số 266 – 10-12-1997, xuất bản tại Thuận Hải, có kê khai danh sách những hung thần VC, nằm vùng tại Đại học Huế từ 1963-1966 như Trần Quang Long, Ngô Kha, Phan Duy Nhân, Lê Thanh Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Minh Tường, Trần Vàng Sao… lại không hề đề cập đến NKĐ. Ngược lại trong bài viết của NKĐ, cũng chẳng hề nhắctới Trần Vàng Sao và Tô Nhuận Vỹ.

Trong lúc đó, trên Mạng Lưới Dân Chủ, ngày 14-11-2005, có phổ biến bài viết liên quan tới “Vụ án TC.2” của Đinh Văn Toàn, phần mở đầu, toà soạn có ghi chú về sự liên hệ của 3 nhận vật xứ Huế, cùng tập kết, hồi kết và vào nằm vùng trong Viện Đại học Huế. Đó là NKĐ, Nguyễn Đính và Tô Nhuận Vỹ.

Ngoài ra báo chí nào của VC khi nhắc tới những năm lạn lạc ở Huế từ 1965-66, đều nhắc tới Trần Vàng Sao, mà chú thích của Mạng Lưới Dân Chủ, nói là bí danh của Nguyễn Đính, lại không hề nhắc tới hoạt động của NKĐ, dù rằng hắn từ cuối năm 1964 đã về haọt động, trà trộn trong Đại học Huế. Lạ m65t điều là Điềm cũng nín thinh như hến, chẳng bao giờ tiết lộ một lời về những ngaỳ haọt động của mình tại miền Nam tù 1964-1975….

… Mấy năm nay, nhờ theo phe cánh thân Trung Cộng tại Bắc Bộ phủ như Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Trần Đình Hoàn, Nguyễn Văn An… nên NKĐ được đồng bọn cất nhắc lên  rất mau và được giao giữ chức Trưởng Ban Văn Hoá Tư Tưởng với trọng trách tận diệt những kẻ dám chống lại đảng đang bán nước cho Tàu…

“Bây giờ mùa mưa đã qua

Giọt nước đầu tiên đặc quánh

Bây giờ bạn đang quay lưng

Chén trà một chân đóng cặn

Anh là kẻ phải đánh trận sau cùng

Kẻ được xé vé cuối cùng trong rạp hát

Sự may mắn của anh dính dáng ít nhiều tới những rễ cây” (thơ NKĐ)

Thơ  là người, thơ đã thay Điềm nói lên chân tướng của mình, nhất là dưới áp lực của mọi phía về cái gọi là “Vụ án siêu nghiêm trọng T4”, có liên hệ tới 11 Ủy viên BCT, trong số có NKĐ cần đưa ra xét xử trước khi họp Đại hội X – như những lời thơ trên khẳng định, “Sự may mắn của Anh dính dáng nhiều tới rễ cây”.

Như vậy ai là kẻ chống lưng cho Điềm? Ai đã bứng NKĐ ra khỏi BCT khi VC vẫn đang làm tôi tớ cho Tàu?”

Bài viết của tác giả Hồ Đinh có ý ám chỉ NKĐ là người giấu mặt trong thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế. Chúng tôi xin nêu lên như một tồn nghi.

*

Mới đây, trả lời phỏng vấn của báo Lao Động, NKĐ đã phát biểu như sau:

“Việt Nam đã bị mất mát nhiều về văn hóa do bị chiến tranh, nhưng cũng chính do chúng ta làm mất. Khi đã thiếu văn hóa, con người ta rất dễ làm điều xằng bậy. Tôi thâấ, bây giờ trong ứng xử với nhau, cái gì mà con người ta có thể bày tỏ thái độ là họ bày tỏ rất thô bạn… Người ta không thích và ngại tiếp xúc với chính quyền, bởi “những người đầy tớ của dân” luôn vòi vĩnh, lạnh nhạt với dân. Đó là sự biểu hiện của một sự xuống cấp về văn hóa giao tiếp, văn hóa hành chính, ứng xử. Với một guồng máy như vậy thì làm sao đất nước phát triển khi thiếu sự tin cậy giữa chính quyền với người dân. Hiện dân chỉ đối phó với chính quyền. Tôi không rõ chúng ta điều chỉnh vấn đề này như thế nào?

… Tôi thường nói với một vài anh em, hiện tại tôi như gái đã có chồng. Mà chồng thì chỉ một thôi. Tức là dù chồng có chết đi rồi, thì tôi cũng chỉ một chồng chứ không tái giá hay léng phéng tìm đối tác. Tôi sống với xã hội này cũng như vậy. Tôi biết mình đã gắn bó, đã được nuôi dưỡng từ trong máu thịt với hệ thống xã hội, với chế độ này. Tôi luôn gắn bó một lòng, nhưng không hẳn những suy nghĩ của tôi hôm nay tôi cũng phải suy nghĩ như hôm qua cả. Tôi phải có những suy nghĩ mới của tôi về tất cả mọi chuyện.

… Bây giờ thì tôi chỉ còn chường mặt  trong thơ. Thơ thì phải cứ thật lòng mình, không thể giấu mình, không thể nói dối”.

*

Đây không phải là một bài viết tranh luận về chuyện “thơ thì phải cứ thật lòng mình, không thể giấu mình, không thể nói dối” – như nhà thơ cung đình Nguyễn Khoa Điềm đã bốc phét!

Mọi người đều biết nhà thơ Lưu Trọng Lư đã làm nhiều người rung động qua những câu thơ:

“Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức?

…

Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô…”

Đến, nay thì không ai tin những câu thơ Lưu Trọng Lư viết:

“… Ngủ rồi ngủ rồi những đau buồn đêm trước

Lá vàng không lạnh lá vàng rơi

Và nai vàng không ngơ ngác nữa em ơi…”

là “thật lòng mình”.

Cũng như đến nay, mọi người đều cảm thấy thương hại Xuân Diệu đã “lột xác” chứng tỏ lập trường bằng cách “đốt đuốc thiêu thơ mình” qua các bài thơ:

“Mỗi lần tranh đấu gay go

Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm.

Nghe lời Bác dạy khuyên răn,

Chúng con ước muốn theo chân của người…

Chúng con thề nguyện một lời:

Quyết tâm thành khẩn: Lột người từ đây!”

“Tôi cùng xương cùng thịt với NHÂN DÂN tôi

Cùng đổ mồ hôi cùng sôi nước mắt…”   

Và chính “tiền bối” của Nguyễn Khoa Điềm là Tố Hữu, đệ nhất cao thủ nịnh bơ của chế độ VC cũng đã thú nhận là ông ta chỉ tưởng tượng, bốc phét khi làm bài thơ  ca tụng trận đánh Điện Biên Phủ.

*

Hình như những kẻ làm ác về cuối đời thường tìm cách chạy tội cho mình. Như truờng hợp ông “Tiến sĩ Bác Hồ” Cao Huy Thuần chạy tội cho “thầy” của mình là Hòa thượng Trí Quang.

Hoàng Phủ Ngạc Tường, Nguyễn Đắc Xuân tìm mọi cách chạy tội trong cuộc thảm sát Huế Tết Mậu Thân.

Và, bây giờ, tới phiên “tên đao phủ giấu mặt” Nguyễn Khoa Điềm đang tìm mọi cách để chạy tội?!

Phải chăng con chim  sắp chết thường hót tiếng bi ai. Và người sắp chết thường nói lời chân thật!?

NHỮNG SỰ THẬT VỀ ÔNG TRẦN ÐỘ

NHỮNG SỰ THẬT VỀ ÔNG TRẦN ÐỘ

"... trong 16 năm có thấy Trần Độ đấu tranh cho dân chủ của ngay nội bộ đảng của Trần Độ đâu. Chẳng những thế Trần Độ còn hãnh diện được hưởng lợi trong cái mất dân chủ đó. Và, Trần Độ hãnh diện và đến nay vẫn hãnh diện đã được cử vào miền Nam Việt Nam để tổ chức khủng bố, chém giết nhân dân miền Nam Việt Nam..."  
LGT: Những sự kiện trình bày trong bài viết này xuất phát từ những cuộc thảo luận về đất nước, nhất là về tư tưởng, hành động của tập đoàn Việt gian cộng sản thống trị Việt Nam, giữa chúng tôi và ông Việt Thường (tác giả hai quyển sách: Chuyện thâm cung dưới triều đại HCM và Sự tích con yêu râu xanh ở Việt Nam) trong nhiều năm qua. Nay, chúng tôi xin góp ý kiến vào việc làm sáng tỏ tình hình phức tạp đang xảy ra ở hải ngoại do cái chết của cựu tướng cộng quân Trần Độ. Ước mong bài viết sẽ là chứng từ tiếp tay hữu ích đối với quí đồng hương, bạn đọc đang đấu tranh vì dân chủ tự do – thịnh vượng và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn quí vị.
Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn
   
Ông Trần Độ, một cựu trung tướng cộng quân Việt Nam vừa chết. Ông ta từng là nhân vật số hai (nhưng giữ nhiệm vụ thường trực) trong hệ thống lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng của tập đoàn cộng quân Hà-nội xâm lược miền Nam Việt Nam trong 16 năm liền, suốt từ những năm đầu thập niên 1960 cho đến hết năm 1976. Nghĩa là ông Trần Độ phụ tá cho đại tướng cộng quân Nguyễn chí Thanh và khi Thanh chết, Phạm Hùng thay thế Thanh thì ông Trần Độ lại phụ tá cho Phạm Hùng, cho đến ngày cộng quân Hà-nội hoàn thành việc vũ trang xâm lược miền Nam và đặt ách cộng sản độc tài khát máu lên cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam.
   Đến đại hội cộng đảng lần 4 (cuối 1976), ông Trần Độ với huân chương chiến tích xâm lược miền Nam Việt Nam đầy ngực, lại vẫn nghiễm nhiên là một trong số 101 ủy viên trung ương chính thức của cộng đảng.
   Với bề dày thành tích và kinh nghiệm ứng dụng học thuyết Paplov của Nga-xô, để biến những thanh niên nam nữ của miền Bắc Việt Nam thành các sát thủ, chỉ hoan lạc khi thấy máu đổ, thịt nát dù là của trẻ em, phụ nữ mang thai, người già v.v…, như nấm mồ ở Huế năm 1968 là một bằng chứng. Vì đó là “ngụy”, theo cách giảng dạy của ông Trần Độ cho binh lính xâm lược của Hà-nội.
   Trong tổ chức binh lính cộng sản xâm lược miền Nam Việt Nam, ông Trần Độ là đại biểu của “hồng”. Nghĩa là, ông Trần Độ “đại diện cho ĐẢNG” (cộng sản); là kẻ được Hồ và bọn lãnh đạo chóp bu hoàn toàn tin cậy, ủy nhiệm cho ông thay mặt chúng, giám sát thành phần “chuyên”, tức là tư lệnh của các quân, binh chủng cộng quân xâm lược!!! Ông Trần Độ là nhân vật chủ chốt trong huấn luyện, tẩy não đoàn quân xâm lược Hà-nội vào miền Nam Việt Nam. Ông cũng là nhân vật chủ chốt về lãnh đạo cái gọi là “binh vận” và “dân vận”. Nghĩa là chỉ đạo việc bịa chuyện để bôi đen nhân dân, quân lực và chính phủ miền Nam Việt Nam cùng lúc tô hồng cái chế độ khát máu ở miền Bắc Việt Nam do họ Hồ và bè lũ tiếm quyền thống trị.
   Những thanh niên nam nữ học sinh, công nhân, nông dân ở Bắc Việt Nam được huấn luyện về quân sự, nhưng phải nhờ bàn tay nhào nặn của ông Trần Độ họ mới trở thành những tên lính xâm lược khát máu. Tính người của họ biến mất, chỉ còn thú tính tàn bạo. Vì thế họ đã thản nhiên thọc lưỡi lê vào bụng những phụ nữ mang thai, những em bé bụ bẫm mới chập chững biết đi, những cụ già đầu bạc phơ… ở Huế (1968); pháo kích vào các trường học; phá các công trình kinh tế, văn hóa, tôn giáo của nhân dân Việt Nam ở miền Nam Việt Nam; chôn cơm thừa không cho các trẻ em vì chiến tranh xâm lược của cộng quân Hà-nội, bị lạc gia đình, viện lý do các em đó là ngụy (!); nhả đạn vào đại tá Hồ Ngọc Cẩn của miền Nam một cách thích thú tháng 4-1975; dí súng sát vào đùi trung úy quân lực VNCH, là Võ Văn Tưng, bắn gãy chân, chỉ vì sau 10 ngày học tập 10 bài chính trị, trung úy Võ Văn Tưng không chấp nhận bị cưỡng bức lao động chân tay (trung úy Tưng ở trại cùng trung tướng Huỳnh văn Cao và thiếu tá Nguyễn Thị Thủy)… và còn biết bao việc tàn bạo hèn hạ khác như trả thù các thương phế binh quân lực VNCH; phá nghĩa trang và san mồ mả của các liệt sỹ VNCH. Viết sách bôi nhọ tất cả các tướng lãnh VNCH dù còn sống hay đã hy sinh.
   Cộng quân Hà-nội được tướng Trần Độ huấn luyện lòng căm thù tất cả những gì là của miền Nam Việt Nam đến mức không chỉ quân đội VNCH mà cả nhân dân miền Nam nói chung, cho đến cả những công trình xây dựng, các cơ sở kinh tế, văn hóa và tôn giáo v.v… cho đến mồ mả của người đã chết (!!!) đều bị tiêu diệt, hủy hoại.
   Với thành tích đao phủ cực kỳ xuất sắc đó năm 1976, ông Trần Độ đã được gắn mề-đay Hồ chí Minh và vì thế mà được giao nhiệm vụ chỉ đạo công tác biến văn hóa văn nghệ thành phương tiện cải tạo tẩy não toàn dân Việt Nam. Ở nhiệm vụ mới này, ông Trần Độ không chỉ huấn luyện lòng căm thù, kích động thú tính của đoàn quân xâm lược vào miền Nam Việt Nam như trước tháng 4-1975, mà nhằm thực hiện âm mưu mới của cộng đảng Hà-nội, sau đại hội 4 (cuối 1976), là tiếp tục thi hành lộ trình của chủ nghĩa bành trướng thực dân đỏ Nga-xô. Vì thế, ông Trần Độ chỉ đạo cuồng tín hóa cả dân, cả lính của toàn Việt Nam, chuẩn bị cho cuộc chiến tranh bành trướng đỏ.
 
Trần Độ: anh hùng giải phóng dân tộc?   
   Nhiều ngòi bút lớn lên trong phong cách “trồng con người mới XHCN” của Hồ chí Minh, đã quen đến mức thành quán tính, là tô hồng hiện thực, như “viện sỹ” tiến sỹ của Hà-nội, Nguyễn thanh Giang, đã vinh danh tướng Trần Độ – bạn vong niên của Nguyễn thanh Giang và bạn của bố vợ của Nguyễn thanh Giang (như Nguyễn thanh Giang khoe) – là anh hùng giải phóng dân tộc. Ngay đầu nửa cuối của năm 2002 này, Nguyễn thanh Giang đã bạo phổi tô màu rằng: “Cụ Trần Độ so với tất cả những anh hùng ở Việt Nam thì cụ hai lần anh hùng. Anh hùng giải phóng dân tộc và anh hùng đấu tranh cho tự do hạnh phúc của nhân dân cho công cuộc dân chủ hóa đất nước”. (Nghĩa là hơn cả Đức Thánh Trần, vua Quang Trung v.v… Quả là ngòi bút của “tiến sỹ Ba-đình Hà-nội” có khác, vừa đỏ lòm, vừa quen tự phong kiểu: “đảng ta là đỉnh cao trí tuệ”!!!)
   Trong chiến tranh chống thực dân Pháp (1946 – 1954) có thể tha thứ cho việc ông Trần Độ lẫn ông tiến sỹ của Hà-nội Nguyễn thanh Giang, đặc biệt Nguyễn thanh Giang còn ít tuổi… bị mơ hồ, không thấy rằng, kể từ khi Hồ dùng biện pháp rèn cán, chỉnh quân, đấu tranh chính trị để đoạt trọn vẹn và độc quyền lãnh đạo lực lượng võ trang (lính và công an) thì các thành viên trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, không là cộng sản, trên thực tế bị mất hết quyền. Rồi đến 1951, khi họ Hồ cho ra công khai tập đoàn cộng sản của hắn dưới cái lốt hiền lành và chất phác là “đảng Lao động”, tiếp đó là các chính sách thoái tô, giảm tô và cải cách ruộng đất, thì trong thực tế đấy là một thủ đoạn để làm cuộc đảo chính âm thầm. Chính phủ Liên hiệp đa đảng chỉ còn cái vỏ, còn nội dung là sự độc tài khát máu của Hồ và nhóm cộng sản thân cận của hắn. Công an và binh lính trở thành công cụ chuyên chính của Hồ để thực thi vũ trang bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ. Và, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc do Chính phủ Liên hiệp đa đảng lãnh đạo từ 1946 đến cuối 1951 đã bị Hồ và tay chân biến màu thành chiến tranh bành trướng của thực dân đỏ (hoặc, nghe cho có vẻ hàn lâm, gọi là chiến tranh ý thức hệ). Từ đó đẻ ra các cụm từ “bộ đội cụ Hồ”, “dân cụ Hồ”, “thiếu nhi cụ Hồ”, “ruộng đất cụ Hồ” v.v… Còn nội dung hành động của lực lượng vũ trang mà Hồ đề ra là: “Trung với đảng*, hiếu với dân”, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng!” Phân tích nội dung hành động đó thì có nghĩa như sau:
1-   Trung với đảng: – tức trung với Hồ và các đầu lãnh cộng đảng chóp bu – là nhiệm vụ hàng đầu; 2-   Hiếu với dân: Người lính nào mà chẳng có cha mẹ, có ai ở lỗ nẻ chui ra đâu, nên hiếu là đương nhiên, vì thế đối tượng dân chỉ có nghĩa là cha mẹ của người lính; một thứ đối tượng có vẻ cụ thể mà lại mơ hồ;
3-   Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành: Nội dung cụm từ này rất mơ hồ. Nghĩa là vì trung với đảng nên đảng bảo làm gì cũng phải hoàn thành, không được thắc mắc đúng sai, thiện ác; chỉ được tuân lệnh (của Hồ và đầu nậu chóp bu);
4-   Kẻ thù nào cũng đánh thắng: Đây cũng là một nội dung mơ hồ. Nó không dám khẳng định rằng phải đánh thắng kẻ thù của tổ quốc, của dân tộc. Phối hợp với cụm từ (1) tức trung với đảng, có nghĩa nó chỉ có nhiệm vụ đánh thắng kẻ thù của đảng mà thôi!!!
Nội dung hành động cho lực lượng vũ trang này ra đời thì đấy cũng là nội dung hành động chủ yếu Hồ giao cho giới chức trong lực lượng vũ trang có tên gọi “chính trị viên” (từ cấp tiểu đoàn trở xuống) và “chính ủy” (từ cấp trung đoàn trở lên). Nói cách khác, “chính trị viên” và “chính ủy” là đại diện của đảng (tức Hồ và tay chân chóp bu) trong đơn vị vũ trang (tương ứng), có nhiệm vụ giám sát, lãnh đạo sao cho đơn vị vũ trang đó phải trung với đảng, phải hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào của đảng giao và phải đánh thắng bất cứ kẻ thù nào của đảng – chứ không phải của Tổ quốc hay dân tộc Việt Nam – Thí dụ như mới năm 2001 đây: cộng quân được điều động đi đàn áp đồng bào Thượng ở Tây Nguyên và đồng bào theo đạo Tin lành; năm 1958 cộng quân được điều động đi đàn áp và giết gần trọn vẹn đồng bào giáo dân thuộc Ba-làng (Nghệ-an); cũng năm 1958-59, cộng quân được điều đi giết cả già, trẻ, lớn, bé, phụ nữ mang thai của đồng bào sắc tộc Mèo ở hai huyện Phó-bảng và Mèo-vạc (Hà-giang), giết gần hai vạn người vì những người này theo đạo Tin-lành. Và, trước kia cộng quân đã được điều đi chém giết, xâm lược miền Nam Việt Nam; đi mở rộng chiến tranh qua Căm-bốt v.v… bất cần đúnghay sai.
   Nhưng, khi Hồ và những kẻ nối nghiệp hắn phát động chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, vi phạm hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, mà chính chúng đã long trọng ký kết trước quốc tế, thì không thể nói rằng Trần Độ mơ hồ được!!!
   Cuộc chiến đó, chỉ có kẻ vừa mù vừa điên mới cho là chiến tranh giải phóng. Vì khi ấy miền Nam Việt Nam là dưới sự lãnh đạo của chính phủ của cụ Ngô Đình Diệm, một chính quyền dân cử, bầu bán tự do được quốc tế và cả tập đoàn Hồ chí Minh thừa nhận. Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, ở vĩ tuyến 17, vào đến Cà-mau, được cải thiện và nâng cao hơn hẳn rất nhiều so với miền Bắc Việt Nam, do họ Hồ cai trị, theo kiểu “đảng cử, dân bầu”, độc tài đảng trị.
   Sau 1954, có mù thì cũng thấy miền Bắc Việt Nam do họ Hồ quản lý thực tế là thoát khỏi ách thực dân Pháp để nằm trong cùm kẹp của thực dân đỏ. Thân phận người dân còn khốn nạn gấp trăm lần thời thực dân Pháp cai trị. Chết và bị tù cũng gấp ngàn lần hơn thời Pháp thuộc. Chiến tranh đã ngưng mà họ Hồ và chân tay (trong đó có Trần Độ) còn cho giết và tù đày 5% trong số 14 triệu dân số nông dân miền Bắc Việt Nam; tù đày, giết, làm nhục hàng vài trăm ngàn cán bộ, viên chức các cấp của Chính phủ Liên hiệp đã có công kháng chiến chống Pháp; bắt giam, cô lập, hạ nhục những trí thức còn có lòng tự trọng, còn lòng yêu nước, số còn lại bị vô liêm sỉ hóa qua chỉnh huấn để trở thành trí nô; lưu đày, giết gần như trọn vẹn những nhà công thương và cướp hết tài sản, công cụ sản xuất và cả quyền sản xuất chuyên ngành của họ (chuyện “vua lốp” kéo dài đến tận thập niên 90 là một điển hình). Nghĩa là họ Hồ đã vô sản hóa trọn vẹn miền Bắc Việt Nam. Tất cả đều là nô lệ của thực dân đỏ. Trên đồng thì nông dân phải thay trâu bò cày ruộng. Nhà máy thì công nhân phải dùng cơ bắp là chính. Mọi tầng lớp nhân dân, viên chức đều phải đi sưu một năm 3 tháng. Lao động thô sơ và cực nhọc được đề cao là biện pháp thuần dưỡng toàn dân. Hủy bộ tư pháp, bỏ khoa luật ở trường đại học và cai trị bằng sắc lệnh. Trong lúc nhà tù mọc như nấm, nhân dân thường trực ăn độn quanh năm, nông dân đói thường trực, chết đói định kỳ, toàn dân không có một tí quyền gì từ đi lại, cư trú, ngôn luận, tín ngưỡng, bầu cử ứng cử cho đến cả hôn thú… (vì tụi cộng sản can thiệp đến cả chuyện yêu đương, sinh đẻ của nhân dân), thì các cơ sở, dịch vụ nhằm thỏa mãn sự ăn tiêu sa đọa của họ Hồ và chân tay (trong đó có Trần Độ) được tăng cường và phổ cập (vợ của tướng Trần Độ từng là lãnh đạo cao nhất của khu các cửa hàng Vân-hồ (Hà-nội), là nơi cung cấp đặc biệt theo giá rẻ (nghĩa là bù lỗ) cho hàng quan lại đỏ trung cao).
   Thời gian mà nông dân miền Bắc trong bàn tay họ Hồ phải làm trâu kéo cày, thì nông dân miền Nam có máy cày, bơm máy, thuyền đuôi tôm cũng gắn máy chạy trên kênh lạch.
   Thời gian mà sinh viên, học sinh ở miền Nam được trợ cấp học hành, các tiệm cơm rẻ tiền chỉ phải mua thức ăn, còn cơm ăn thoải mái nhưng rất vệ sinh, ngon lành mọc lên để giúp người còn khó khăn, thì sinh viên, học sinh miền Bắc, trong tay họ Hồ sống như nô lệ, lúc nào cũng đói để dễ huấn luyện, dễ vô liêm sỉ hóa. Và 3 tháng hè thì phải làm sưu dịch dưới mỹ tự “lao động nghĩa vụ XHCN”.
   Những việc nói trên, trước 1975 Nguyễn thanh Giang không có điều kiện so sánh; nhưng sau 1975 mà vẫn không thấy ra được thì đúng là trí ngủ. Còn trung tướng cộng quân Trần Độ không thể nói là không biết vì từ cuối 1960 đã lãnh nhiệm vụ phó chính ủy cộng quân Hà-nội vào xâm lược miền Nam Việt Nam.
   Trần Độ là một trong số gần 70 tên cộng sản chóp bu từ thuở 1960, nên coi sứ mạng xâm lược miền Nam Việt Nam, tàn sát nhân dân miền Nam Việt Nam theo lộ trình bành trướng thực dân đỏ là chiến tích anh hùng và được họ Hồ gắn mề-đay như xưa kia thời Hai Bà Trưng, tướng giặc Mã Viện đã tàn sát và xâm lược Việt Nam cũng được lũ vua quan phương Bắc coi là anh hùng và khen thưởng vậy.
   Trước tháng 4-1975, tụi cai trị Ba-đình (Hà-nội) đã đành, còn một số dân nào đó ở miền Bắc Việt Nam coi hành động xâm lược của Trần Độ là anh hùng giải phóng vẫn tạmtha thứ được, vì họ bị nhồi sọ sản phẩm tuyên truyền đỏ và họ bị mù thông tin. Nhưng, đến tận nửa cuối của năm 2002 này mà một người luôn căng biển “viện sỹ, tiến sỹ” (dù là của cộng sản Hà-nội chế biến) như Nguyễn thanh Giang, tự phong cho mình là chiến sỹ hàng đầu đấu tranh cho dân chủ hóa đất nước; muốn hòa hợp toàn dân Việt Nam – cả trong và ngoài nước – “xóa bỏ hận thù, quên quá khứ” để hướng về tương lai, nhưng đặc biệt lại tự cho phép mình nhớ cái quá khứ đẫm máu dân Việt Nam ở miền Nam Việt Nam của Trần Độ để thổi lên thành anh hùng giải phóng dân tộc!!!
   Nếu Nguyễn thanh Giang nhớ lại quá khứ chiến tích xâm lược miền Nam Việt Nam của Trần Độ, gây nên biển máu núi xương và biết bao tang thương cho nhân dân cả hai miền Nam Bắc Việt Nam, và vinh danh là anh hùng giải phóng dân tộc thì, có nghĩa trong đầu Nguyễn thanh Giang vẫn coi QLVNCH, coi chính quyền dân cử của miền Nam Việt Nam, nhân dân miền Nam Việt Nam là ngụy (tức Việt gian) như họ Hồ và bè lũ thân cận (trong đó có Trần Độ) đã gán ghép như vậy! Tập thể người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại hiện nay hầu hết là cái thành phần “ngụy” ấy và con cháu của họ đấy!!!
   Nguyễn thanh Giang phát biểu bằng cả nói lẫn viết cái lối “tư duy” hủ lậu và vẫn đậm màu cuồng tín như giới chức, thành phần được ưu ái của chế độ Hồ chí Minh từ 1975 trở về trước vậy (trong khi bao thanh niên trong trắng của miền Bắc bị tẩy não, bị lùa vào đạo quân xâm lược dưới quyền nhào nặn của tướng Trần Độ để “sinh Bắc tử Nam”, chứ đâu được ăn học thành tiến sỹ và là bạn thân của… Trần đức Lương, của Trần Độ).
   Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam qui định cho họ Hồ tạm quản lý miền Bắc Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở ra, và sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do cả hai miền để nhân dân được tự do chọn người đại diện của mình. Thế nhưng, ngay khi thi hành hiệp định Genève thì họ Hồ đã chủ động vi phạm. Cho dù Trần Độ không kể cho Nguyễn thanh Giang, thì ngay trên báo chí cộng sản hiện nay cũng dần dần lòi đuôi, như việc năm 1954, cộng sản tổ chức tiễn lực lượng tập kết ra Bắc do tàu biển của Ba-lan (cộng sản) chở giúp. Nhưng, Lê Duẩn lên tàu buổi trưa thì tối có xuồng đón quay lại bờ để tiếp tục chỉ đạo chôn cất vũ khí, phân tán nằm vùng, xây dựng cơ sở, thâm nhập cơ quan dân cử, công quyền của miền Nam để phá hoại, khủng bố. Hồ tạm quản lý miền Bắc Việt Nam vậy mà hắn tự do giết nông dân (5%), bần cùng và vô sản hóa nông thôn bằng cái gọi là ���cải cách ruộng đất”; loại bỏ và giết những người có tâm huyết với đất nước, có công kháng chiến chống Pháp bằng cái gọi là “chấn chỉnh tổ chức”; cô lập, làm nhục, loại bỏ những trí thức với đúng nghĩa trí thức để chỉ còn lại những “chuyên viên các loại” đầu hàng, bị vô liêm sỉ hóa thành trí nô bằng cái gọi là “cách mạng văn hóa tư tưởng” và cuối cùng là vô sản hóa thành thị bằng cái gọi là “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”. Kể từ đó, miền Bắc Việt Nam được chia thành: a) nhân dân các giới trở thành nô lệ và hoàn toàn trở thành tài sản của họ Hồ (cụm từ “dân cụ Hồ”, “đất nước cụ Hồ”, “gạo cụ Hồ”, “hạt muối cụ Hồ” v.v…); đảng cộng sản của Hồ núp dưới tên “đảng Lao động” thực chất là một tổ chức mới: gần như trọn vẹn những người vì lý tưởng gia nhập cộng sản bị thủ tiêu, loại bỏ đảng viên ở nông thôn là lũ “rễ tố láo” – tức vô sản lưu manh làng xã. Đảng viên trong thành thị và lực lượng vũ trang, viên chức còn tồn tại sau rèn cán, chỉnh quân, đấu tranh chính trị, cải cách ruộng đất, chấn chỉnh tổ chức, các mạng văn hóa tư tưởng, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh thực tế đã bị thoái hóa thành Việt gian, công cụ bành trướng của thực dân đỏ mà Hồ là tên Việt gian đầu nậu. Hoạt động của chúng không vì quyền lợi của tổ quốc và nhân dân Việt Nam mà tất cả là vì mục tiêu chiến lược của thực dân đỏ. Vì thế, theo lệnh Hồ, năm 1956 Ung văn Khiêm ký giấy dâng đất dâng biển cho Tàu cộng và năm 1958 Phạm văn Đồng lại khẳng định lại sự dâng đất, dâng biển đó. Và, năm 1959 Hồ cho ra Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1946 của Quốc hội Liên hiệp, không thèm trưng cầu dân ý (vì tất cả là nô lệ rồi) và hắn tổ chức lại nhân sự, công khai thi hành việc bành trướng thực dân đỏ vào miền Nam Việt Nam. Hồ cho mở đại hội cộng đảng lần 3 (1960) và Trần Độ được Hồ lựa chọn là 1 trong gần 70 ủy viên trung ương đảng và cử vào chỉ đạo việc thú tính hóa đoàn quân xâm lược gồm nô lệ từ miền Bắc đưa vào cộng với tụi nằm vùng sẵn ở trong Nam và những người dân miền Nam vì thiếu thông tin và nhẹ dạ chính trị mà bị dụ khị.
   Sự thành công của Trần Độ trong công cuộc xâm lược miền Nam Việt Nam phải nói là có sự góp sức của nước cờ siêu cường và cái gọi là tầng lớp trí thức hoang tưởng, tham vọng chính trị mơ hồ cũng như những ngòi bút, cơ quan truyền thông cơ hội và thiếu trung thực và thiếu khả năng phân tích đúng sai. Bản thân họ mơ hồ và làm lan truyền bệnh dịch mơ hồ đó sang quảng đại quần chúng. Phải sau tháng 4-1975 người ta mới thức tỉnh thì đã muộn: Trần Độ đã chụp cái ách cộng sản lên đầu lên cổ nhân dân miền Nam Việt Nam. Và, thế là giã từ với cái ảođể quan lại với cái thực thì nào ngờ tất cả cái thực (nhà cửa, tài sản, cuộc sống tự do, no ấm v.v…) đã bị trung tướng, “phó chính ủy quân giải phóng miền Nam” là Trần Độ cùng đồng chí chiếm giữ trọn vẹn. Và, chỉ còn cách ra đi để tìm lại cái đã mất, chấp nhận cứ 3 người ra đi thì có thể một người phải nằm lại làm mồi cho cá; chấp nhận để vợ, con, chị, em có thể bị cướp biển cưỡng hiếp; chấp nhận có thể ăn thịt bạn đồng hành bị chết để khỏi chết đói. Tổ tiên ta đã dạy:
“Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”
   Vậy mà chưa ấm chân nơi lưu vong, đã có kẻ lớn tiếng gọi quên (trong khi kẻ địch lúc nào cũng nhớ kể cả “nhà chống đối nổi tiếng” là Nguyễn thanh Giang). Điều khó hiểu là những người tự nhận trí thức trẻ, được một me-xừ, bôi bác lý do thực vì sao lưu vong ở Nga, tự tô vẽ thành người của nhóm “xét lại chống đảng”, cho trí thức trẻ đi tàu bay giấy thành “những thành phần tiên tiến trong giới trí thức trẻ”, chỉ vì cái nhóm người này thiếu thông tin trung thực, thiếu vốn sống thực về cộng sản nên đã “đồng tâm nhất trí tổ chức lễ tưởng niệm cụ (?) Trần Độ tại Toronto…”!!! Có nghĩa trí thức trẻ ở hải ngoại không tưởng niệm Trần Độ là không tiên tiến (?). Đúng là giọng lưỡi từ một lò mà ra! Chắc là vì “cụ” đồ tể Trần Độ đã buông dao nên thành Phật… thủ!
 
 
Trần Độ: anh hùng đấu tranh cho tự do hạnh phúc của nhân dân cho công cuộc dân chủ hóa đất nước???
   Ông Trần Độ là ủy viên trung ương cộng đảng từ khóa 3 (1960), là lúc số ủy viên trung ương chưa tới 70 và ông ta giữ cái ghế đó liên tục 5 khóa (từ khóa 3 đến hết khóa 7). Nghĩa là ngay từ 1960, ông Trần Độ đã phải hiểu rõ rằng con đường bước vào trung ương của ông ta diễn ra trong bầu cử mất dân chủ và không đúng điều lệ cộng đảng ghi trên giấy trắng mực đen. Nội bộ của cái đảng đó với số lượng hạn hẹp của đại biểu được cho dự đại hội không có quyền ứng cử và đề cử, mà chỉ được phép bầu đúng như trên (tức Hồ) ra lệnh – được diễn đạt tế nhị là “Bác và trung ương cũ giới thiệu”.   
 Từ đó – tức đại hội 3 (1960) cho đến đại hội 4 (cuối 1976), trong 16 năm có thấy Trần Độ đấu tranh cho dân chủ của ngay nội bộ đảng của Trần Độ đâu. Chẳng những thế Trần Độ còn hãnh diện được hưởng lợi trong cái mất dân chủ đó. Và, Trần Độ hãnh diện và đến nay vẫn hãnh diện đã được cử vào miền Nam Việt Nam để tổ chức khủng bố, chém giết nhân dân miền Nam Việt Nam, phá hoại công cuộc xây dựng dân chủ tự do hạnh phúc của nhân dân miền Nam Việt Nam. Trần Độ hành động một cách tự giác, rất tích cực đúng như Nguyễn thanh Giang thú nhận rằng: “Trần Độ là người có công nhất xây dựng NGAI VÀNG” cho tụi cộng sản chóp bu hiện nay. Cái NGAI VÀNG đó được xây bằng gì, cái nhóm gọi là “trí thức trẻ” ở Toronto có biết không?

   Đó là hàng chục triệu người Việt Nam bị chết thảm khốc vì chiến tranh xâm lược, mà ngay quân lính xâm lược dưới trướng Trần Độ đến nay vẫn còn bị coi là mất tích hàng hơn 300 ngàn; hàng triệu người miền Nam bị tù đày và phải bỏ xác lại nơi tù đày cũng cả trăm ngàn; hàng triệu gia đình bị đuổi đi vùng hoang hóa cho chết dần chết mòn; hơn 2 triệu người liều mạng vượt biển đi lưu vong, chết trên biển gần nửa triệu cộng với biết bao bà mẹ và các em nhỏ tuổi có khi độ lên 10 mà phải chịu đựng lũ cướp biển Thái-lan hiếp tập thể cho đến chết, nếu có sống sót thì như thế nào, các nhà “trí thức trẻ” có biết không? (loại trừ tụi con em của tụi cộng sản du học). Số phận các thương phế binh quân lực VNCH hiện nay như thế nào? Đó là những người đã đem máu thịt của mình để bảo vệ cho những người mẹ của cái nhóm “trí thức trẻ” đó được yên ổn khỏe mạnh, được sinh đẻ “mẹ tròn con vuông” để nay ăn học thành trí thức thì… buồn thật, nhất là cho những bà mẹ mang nặng, đẻ đau và những người cha bị làm nhục trong nhà tù cộng sản và v.v…
   Tất cả mọi tiêu cực, từ nếp sống văn hóa, đạo lý làm người, truyền thống dân tộc v.v… cho đến tài sản thiên nhiên, dân sinh, dân quyền của Việt Nam hiện nay bị tàn phá hủy hoại, xuống cấp v.v… đều có Trần Độ là “người có công nhất” góp phần như Nguyễn thanh Giang thú nhận.
   Đến đại hội 4 (cuối 1976), vì là kẻ “có công nhất”như thế, nên Trần Độ được mề-đay Hồ chí Minh và vẫn được đứng trong số 101 kẻ đầu lãnh cao nhất của cộng đảng – tức ông chủ lớn của cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam.
   Hình ảnh mất dân chủ trong cái đại hội 4 này thật là điển hình (có ông Gorbachev dự). Lần đầu tiên, bị ảnh hưởng cởi mở của Gorbachev, gần 1200 đại biểu, đại diện cho hơn 1 triệu đảng viên, đã thử ứng cử, đề cửvà phân tích thành tích của danh sách do trên đề cử (tức ra lệnh bỏ phiếu) liền được Lê Duẩn, có Lê đức Thọ và Trần quốc Hoàn (bộ trưởng công an) tháp tùng, đến từng tổ đại biểu để răn đe đại ý “ai có thắc mắc xin ghi âm sẽ giải quyết sau”và “phiếu bầu của mỗi người sẽ phải lưu lại để cho Ban bảo vệ đảng nghiên cứu”. Và, sau đó gần 1200 đại biểu được cho diễn tập bầu thử, đến lần thứ 3 mới đạt yêu cầu của “trên”. Nghĩa là đúng cái danh sách 101 người đã được Lê Duẩn – Trường Chinh thỏa hiệp lựa chọn – trong đó đương nhiên có tên Trần Độ. Thế là đại hội chỉ có diễn văn khai mạc, diễn văn chào mừng của vài đoàn “đảng bạn” và diễn văn bế mạc hoàn toàn không bàn thảo đường lối, chính sách, vì tất cả thời gian là dành cho tập dượt bầu cho đúng ý của “trên”.
   Thuở ấy, đến đứa trẻ ở Hà-nội cũng biết chuyện này nên dù không được nghe Trần Độ kể lại thì chắc chắn Nguyễn thanh Giang cũng phải biết (vì là trí… thức XHCN rồi).
   Từ đó cho đến hết khóa 7 (tức là 3 khóa nữa), có ai thấy Trần Độ nói nửa lời để đấu tranh cho dân chủ cho ngay cái số gọi là đại biểu dự đại hội đâu. Vì sao? Vì Trần độ vẫn là kẻ thủ lợi trong cái cơ chế độc tài mất dân chủ đó!
   Một người không dám mảy may đấu tranh bảo vệ dân chủcho ngay cái nội bộ đảng của mình, cho việc thi hành đúng điều lệ của đảng trong chiều dài của 5 khóa đại hội, dù bằng hình thức tiêu cực là “cáo lão hồi hưu”. Chỉ tự ái và quê với đồng đảng khi bị loại ở khóa 8, mặc dù thế, Trần Độ vẫn được tặng cho món quà là Phó chủ tịch quốc hội, theo công thức “đảng cử dân bầu”. Có thấy Trần Độ… từ chối đâu vì ít nhiều vẫn thủ lợi trong việc mất dân chủ đó. Phải chờ bị đuổi khỏi đảng mà vẫn còn nuối tiếc với những ngôn ngữ rất ấu trĩ của người làm công tác chính trị gần suốt cuộc đời, rằng: “… vẫn tự hào là người giữ nhiều chức vụ cao, thâm niên đảng, được nhiều huân chương, huy chương, là siêu công dân, công dân loại một” (vẫn còn mê cái xã hội miền Bắc Việt Nam mà họ Hồ chia xã hội thành 13 đẳng cấp!!!) Từ đó mới giận hờn với“đảng”!
   Đã gọi là trí thức thì phải biết suy nghĩ đứng đắn, dù già hay trẻ – nhất là “trẻ tiên tiến”. Vậy thử nghĩ xem một con người còn mê mẩn cái xã hội bị chia thành 13 đẳng cấpvà suốt 28 năm khi được hưởng lợi thì ngậm miệng như hến, như thế có thể nào là kẻ thực tâm đấu tranh cho dân chủ, tự do, hạnh phúc của nhân dân không (?), hay là chỉ h���c lại võ của họ Hồ thuở 1945 với mồi câu là độc lập, tự do, hạnh phúc, nhờ đó mà cướp được quyền cai trị để thiết lập nên một chế độ độc tài khát máu nhất trong lịch sử Việt Nam, kinh hoàng hơn cả thời Bắc thuộc lẫn Pháp thuộc!!! Và, từ 1960 trở đi, Trần Độ là người “có công nhất” trong việc sử dụng cái mồi câu khác của họ Hồ “không gì quý hơn độc lập tự do” và nhiều mồi khác nữa như “đoàn kết dân tộc” v.v… để câu những trí thức – cả già cả trẻ – như Trịnh đình Thảo, Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Lâm văn Tết, Dương quỳnh Hoa, Trương như Tảng, Huỳnh tấn Mẫm, Lữ Phương, Lê văn Hảo, anh em Hoàng phủ Ngọc Tường, Phan lạc Tuyên, Trần bửu Kiếm và v.v… để hoàn thành việc bành trướng thực dân đỏ vào miền Nam Việt Nam, đổi tên thành phố Sài-gòn thành Hồ chí Minh theo kiểu xưa kia Mã Viện chôn cột đồng vậy. Và, miền Nam trước và sau tháng 4-1975 khác biệt thế nào, có tự do, hạnh phúc, dân chủ không (?), dù không là trí thức, một chữ bẻ làm đôi không biết cũng vẫn hiểu và phân biệt được. Vì thế, biết bao em nhỏ tuổi chưa đến 18, ít học cũng tự giác tập hợp đứng lên chống Trần Độ và bè lũ. Biết bao em nhỏ như vậy bị giết và chôn vùi tuổi thơ trong các cái gọi là “Trại Cải Tạo”. Những người ít học nhưng có lòng ấy không hề nghĩ đến trả thù khi Trần Độ thất thế nhưng cũng không vô liêm sỉ và mù quáng đến mức tưởng niệm Trần Độ như một anh hùng dân tộc!!! Giải phóng. Đấy mới thực sự là những bậc trí giả tiên tiến đại trượng phu.
   
Kết luận
Nếu quả thật Trần Độ thực lòng đấu tranh cho tự do, hạnh phúc và dân chuû của nhân dân thì tại sao Trần Độ không lên tiếng bảo vệ khi nông dân Thái Bình vùng lên chống tụi cường hào đỏ, vì Trần Độ cũng là người Thái Bình và dân Thái Bình bất hạnh nhất vì phải đóng góp số lượng lớn nhất toàn miền Bắc Việt Nam về chồng, con, anh em để Trần Độ lùa vào “đại lộ sinh Bắc tử Nam”. Sau vụ đó, bọn đầu nậu Ba-đình đỏ cho bắt hàng trăm người bị coi là cầm đầu vụ nổi dậy đưa đi thủ tiêu ngầm (bà Dương thu Hương đã lên tiếng tố cáo). Hầu hết họ là cựu chiến binh dưới trướng Trần Độ, có thấy Trần Độ lên tiếng đâu (!). Và tiếng nói chỉ còn phều phào trong vụ bọn họ Nông dâng đất dâng biển cho Tàu cộng, đâu có đanh thép như luật sư Lê Chí Quang hay đau xót như cụ Đỗ Việt Sơn. Có lẽ vì lý do đó mà bà Dương Thu Hương – cũng người Thái Bình, cựu thanh niên xung phong – không thấy xuất hiện bên nhóm của Trần Độ – Nguyễn thanh Giang. Và bà Dương Thu Hương còn nhận xét “trí thức mang trái tim chó” (rất có thể nhằm vào kẻ tô màu cho Trần Độ thành hai lần anh hùng). Và, điều quan trọng nữa là phần lớn người dân Thái Bình thờ ơ với trò làm mình, làm mẩy của Trần Độ vì không còn được thủ lợi trong trò mất dân chủ nữa, vì thế mới chống.
   Xin được chia xẻ kinh nghiệm về thế giới cộng sản với các “trí thức trẻ tiên tiến”, rằng kẻ nào lớn tiếng khóc và lo ma chay cho “lãnh tụ” năng nổ nhất là kẻ âm mưu thay chỗ của “lãnh tụ”. Thí dụ: Staline khóc Lénine; Malenkov khóc Staline; Andropov khóc Bre-zơ-nép; Tchecnenko khóc Andropov và Gorbatchev khóc Tchecnenko. ở Việt Nam thì Lê Duẩn khóc Hồ; Trường Chinh khóc Lê Duẩn; Nguyễn văn Linh khóc Trường Chinh!
   Cho nên cần suy nghĩ về những giọt nước mắt cá sấu của những kẻ luôn tự đề cao, giới thiệu về “cái tôi” cả trong… điếu văn dành cho người khác!
 
oo00000oo

  Ông Trần Độ chết đi là bớt được một cái gai trong mắt của bè lũ Nông đức Mạnh hiện nay. Tuy xuất phát vì tự ái bởi bọn hậu sinh coi thường, đá đít kẻ “khai quốc công thần”của chế độ (cộng sản khát máu) nên ông Trần Độ phê phán tụi Ba-đình đỏ ngày càng gay gắt kể từ lúc mất ghế trong khóa 8, rồi bị đuổi khỏi đảng và đỉnh cao, là bị chặn bắt tịch thu cuốn nhật ký thì ông mới thốt ra rằng cái chế độ đó còn tàn bạo hơn thời Tần thủy Hoàng hay Hitler! Tuy là tự ái cá nhân nhưng do ông là “người có công nhất” nên có tác dụng vạch mặt chế độ (Bởi nếu không vì tự ái cá nhân mà vì lý tưởng đấu tranh cho dân tộc thì đâu phải uất ức phát bịnh mà chết, mà càng bình tĩnh, sáng suốt đấu tranh).
  Ủng hộ ông Trần Độ chống chế độ Ba-đình đỏ hiện nay là rất nên làm và cần phải làm. Nhưng ông ta chưa xứng đáng để được tưởng niệm, nhất là đối với cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại, đang có biết bao người xứng đáng cần được tưởng niệm long trọngnhư các liệt sỹ Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn v.v… Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch, Hoàng Cơ Minh… Cuộc tưởng niệm Trần Độ ở Toronto đã cho cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại nhận diện được mấy bộ mặt “thành phần thứ 3” ở miền Nam Việt Nam trước 1975, đến nay đầu đã muối tiêu vẫn chưa khỏi bệnh u mê đi hàng hai nặng mùi cơ hội.
   Có một điều cũng cần lưu ý khi đọc tin trên một số báo chí thuộc loại cơ hội, cố tình bóp méo sự thật. Thí dụ: tờ Thông luận, đăng bài của Nguyễn thanh Giang về làm tang lễ cho Trần Độ, họ cũng biết Trần Độ là người thuộc loại có công nhất trong cuộc xâm lăng, chém giết và tàn phá miền Nam Việt Nam, nên trong phần tóm tắt tiểu sử của Trần Độ, tòa soạn Thông luận cố tình bịa rằng năm 1974 Trần Độ đã rời quân đội, ra Hà-nội nhận công tác khác, để tránh cho Trần Độ cái tội lãnh đạo cuộc xâm lăng miền Nam cho đến tháng 4-1975. Còn một vài tờ báo khác ở Mỹ thì đưa tin một chiều trong mục diễn đàn, chỉ đăng các bài khóc lóc, suy tôn Trần Độ của mấy anh cơ hội chủ nghĩa hoặc khù khờ thông tin, còn biết bao bài nói sự thật về Trần Độ thì… lờ đi.

Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn